|
Ma này
thường gọi là chấp chướng. Người tu thiền định nếu muốn khỏi rơi vào định tà,
thì phải dứt tà kiến. Vì sao tà kiến làm mất chánh định như thế ? Bởi các cố
chấp như : Chấp tánh chẳng hoại, gọi là chấp có. Chấp tánh vốn không, gọi là
chấp không. Chấp vốn bất tử, gọi là chấp thường. Chấp theo hơi hám diệt, gọi là
chấp đoạn. Chấp không sanh ra có, là kiến chấp thuộc tự nhiên. Chấp khí hóa ra
hình, là thuộc chấp tà nhân… Như thế gồm các loại cố chấp chẳng có, chẳng
không, tức có, tức không và tất cả tà chấp, tà kiến, nhân duyên, tự nhiên, đều
chẳng rời hai đầu có không đoạn thường, tự chướng bản lý, dần dần sa vào các
ngỏ tẽ. Những người tu thiền phải nên cảnh giác, và nhận định cho chính xác, xa
lìa các kiến chấp kể trên.
Đây là nói những kiến chấp. Theo tinh thần đạo Phật, dù tu pháp
môn nào, mà tu tới đâu chấp tới đó, tức là tà đạo. Ví dụ ở trong Thiền viện
này, có vị tu làm chủ được thân tâm, buổi chiều không ăn uống gì hết mà vẫn an
nhiên khỏe mạnh, rồi chấp cho đó là chân lý, như vậy là tà. Tóm lại, tà kiến,
tà chấp là những căn bệnh thâm căn cố đế. Người tu hành phải trị nó, không để
nó tồn tại trong công phu tu hành của mình. Nếu không giải trừ thì chúng ta
không thể tiến được.
Bởi tâm thể rỗng rang sáng suốt, không dung một chút tì vết nào
cả. Cho nên những gì khởi lên trong đó đều không phải thật. Khi nói gương sáng
thì mặt gương đó phải không lưu bất cứ tì vết nào, mới sáng được. Nếu có hình
bóng nào vướng lại, dính khằn trên đó thì mặt gương bị che khuất, không còn
sáng nữa. Mặt gương đó bây giờ giống như bị thợ sơn phết cho một lớp sơn xanh
vàng đỏ trắng… Cho nên nói mặt gương sáng là mặt gương phải sáng loáng, không
còn tì vết nào cả.
Tâm thể chúng ta cũng vậy, rỗng rang sáng suốt, trùm khắp xưa
nay. Trong đó không dung một chút hình ảnh nào. Giả dụ như chúng ta tu được Tứ
thiền Bát định mà ngay đó không buông, không tiến hơn nữa thì Tứ thiền Bát định
cũng thành trở ngại, chưa phải là chỗ cứu kính viên mãn của người tu cần phải
đạt đến.
Ở đây nói những thứ chấp: Chấp tánh chẳng hoại, gọi là chấp có. Nghĩa
là chấp có các sự vật còn hoài không mất, đó gọi là chấp có. Chấp tánh vốn
không, gọi là chấp không. Điều này chúng ta dễ lầm lắm. Như nói tánh các pháp là
không, nếu nghe như vậy mà cho không có gì cả thì trật. Các Thiền sư nói chúng
ta tu hành mà không đả thông được những kiến chấp, thì khác nào con cẩu gặp vật
gì cũng ngửi, cũng liếm… Các Ngài nói hơi thô nhưng đúng căn bệnh ngàn đời cũng
chúng ta.
Pháp trần nào, cảnh duyên nào, sự kiện gì bên ngoài đến, chúng
ta cũng đều bị thu hút, dính mắc. Không nhất thiết là cảnh duyên tốt mà luôn cả
những cảnh duyên xấu, chưa đúng với tinh thần đạo pháp, chúng ta cũng dính mắc.
Người ta nói xấu mình cũng tức lên, người ta chọc giận mình cũng giận lên,
người ta rủ rê tầm bậy tầm bạ mình cũng làm theo… Tất cả những thứ đó là việc
không tốt, lẽ ra chúng ta phải vất đi, đằng này chúng ta chiếu cố nó còn nhiều
hơn cái tốt nữa. Bởi vì khi có người làm trái ý, mình liền khởi bực bội.
Rõ
ràng mình gần thói xấu nhiều hơn tánh tốt, đó là một căn bệnh phổ thông.
Chúng ta cứ thâu lượm hết để vào gánh của mình. Gánh không nổi,
gục giữa đường mà gặp cái gì cũng chất vô hết. Nếu có trí tuệ thì lẽ ra chúng
ta chỉ thâu lượm vàng ngọc thôi. Cho nên càng nghiệm càng thấy mình dở. Có
những cái thật tệ mà chúng ta lại chiếu cố nhiều hơn những cái tốt. Những thói
quen nho nhỏ thôi nhưng có khi mình bỏ không được. Nhà Phật gọi là chủng tử.
Tập khí bắt nguồn từ những thói quen đó.
Ví dụ mình không hút thuốc nhưng gần nhà có người hút thuốc,
khói thuốc đó bay lan sang nhà mình. Bình thường mình không chấp nhận, nhưng
sớm nào nó cũng bay ngang lỗ mũi, ngửi quen thấy cũng được. Thế là mình bắt đầu
ngồi đợi khói thuốc bay lạc tới. Dần dần mình hút thử với lượng nhỏ, sau lên
lượng lớn, rồi lâu ngày thành ghiền. Vậy là nghiệp từ mình chứ không từ ai. Từ
dấy niệm về làn khói bay lạc ngang, mà không chịu tỉnh thức, không làm chủ, để
nó dẫn đi hồi nào không hay.
Nếu chúng ta quyết tâm, tự đặt cho mình mục đích chính yếu của
đời tu, thì nhất định phải tế tâm gìn giữ. Có những trường hợp thách thức làm
cho mình bị bức xúc. Nếu không tỉnh, không kiên định thì chúng ta sẽ dễ bị
ngoại cảnh lay chuyển, rồi từ đó tạo nghiệp.
Về việc tu hành, thật ra chúng ta chỉ nói trên tổng thể thôi,
chứ mỗi người đều có nghiệp riêng, chủng tử riêng. Nghiệp này nhiều vô lượng vô
biên, chúng ta không thể dò biết được. Không ai có thể biết được ham thích của
ai, hà huống là những thứ đó mình thường dấu diếm, thường che đậy.
Đối với đời sống của các bậc thánh thiện thì những điều đó giải
phăng ra hết. Bởi giải phăng ra hết nên các Tổ nói nó không thật, là đồ bỏ.
Chúng ta còn phàm phu chưa thể bỏ một cái rụp những thứ ấy, nên những gì xúc
phạm đến thân này, danh dự này, cá nhân này thì mình có những buồn vui, hờn
tủi. Đây chính là trở ngại, làm che chướng con đường tiến đạo của chúng ta. Vì
vậy người quyết tâm tu cần phải khai thông, để những thứ buồn vui, tức giận,
che chướng, ham thích… không còn làm gì được mình nữa.
Trong công phu tu hành, rất kỵ để bế tắc. Cần phải khai thông
tất cả. Bế tắc như thế nào ? Đạo lý chưa sáng mà những nghiệp tập, cứ tác động hoài,
chúng ta không giải quyết được, thì việc tu rất dễ thối thất. Kiểm nghiệm lại,
biết nghiệp tập nhiều, chúng ta quyết làm chủ nó. Đứa nào nổi lên, mình nắm lấy
buông nó xuống. Gặp đứa cứng đầu thì ta trừng mắt rầy quở nó: ta biết mi không
thật, hãy đi. Người có trí tuệ khi đối diện với nó, biết nó không thật thì
không có gì xảy ra, bình an. Nếu chúng ta không đả thông được thì chúng sẽ gây
trở ngại cho việc tu hành của chúng ta.
Ai cũng biết cuộc đời là vô thường. Vô thường nhanh chóng, sự
hiện diện của mình trong cuộc đời này rất mong manh, vậy mà chúng ta cứ dính
mắc liên tục. Mọi sự sắp đặt của mình là trăm năm ngàn năm. Một câu nói không
tốt, không đáng, mình lại âm thầm gìn giữ, cả đời chưa quên được. Chúng ta nên
suy nghĩ đến chỗ này. Nếu chúng ta cứ ôm giữ như thế thì núi non nào mà chứa
cho hết. Bởi vậy Phật nói cái chấp của chúng ta cao như núi, sâu như biển, rậm
như rừng là vậy. Người tu thiền phải vận dụng toàn tỉnh giác của chính mình để
trị những tâm bệnh đó của chúng ta.
Trong Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ đã nói đi nói lại rất nhiều lần, xác minh
tâm thể chân thật không nhiễm không tịnh, không trước không sau, không trên
không dưới… hoàn toàn rỗng rang. Với chúng ta thì có núi sông nhà cửa, có ta có
người, có đất đai ruộng vườn, có sự nghiệp tài sản… Bây giờ phải tháo bỏ thì
thật là khó, chứ không đơn giản chút nào.
Từ đó chúng ta thông cảm thương yêu và đùm bộc nhau. Như khi
mình mắc một chứng bệnh ngặt, mà hay người huynh đệ cũng mắc phải bệnh đó thì
mình liền phát tâm thương yêu giúp đỡ, giải trừ những bệnh tật đó. Được vậy,
cuộc sống của chúng ta tốt đẹp biết là bao nhiêu.
Trong việc tu hành, nếu chúng ta tu tiến, được lợi lạc thì rất
tốt đẹp. Nhưng nếu như huynh đệ chúng ta chưa hoàn toàn bỏ được những điểm
khuyết dở thì chúng ta cũng hết lòng thương yêu đùm bộc nhau. Khi thấy rõ được
bệnh của mình thì nên cảm thông với bệnh của người. Chúng ta cùng giúp nhau tu
hành đến nơi đến chốn. Đây là điều tốt đẹp cho tập thể, là điều mà tập thể cần
xây dựng. Trên đường Phật đạo, chúng ta nguyện cùng với các đồng chí đồng hạnh
sẽ là quyến thuộc hổ trợ nhau tu hành cho đến ngày viên mãn.
Con đường Phật đạo không thể tính ngày, không thể đếm kể tất cả những
khó khăn khốn khó. Chúng ta phải là người đầy đủ từ bi trí lực, mới có thể
thành tựu được. Còn một chút kiến chấp là còn trở ngại. Ở đây nói chấp có, chấp
không, chấp bất tử, chấp thường, chấp diệt, chấp đoạn, chấp tự nhiên… Tóm lại
những cái lầm chấp, chúng ta lượm lặt ôm giữ cố thủ, bảo vệ từ lâu nay. Bây giờ
chúng ta dám nhận diện từng cái và thảy ra. Như thế chúng ta mới là con người
kiến đạo, sống được với tánh giác. Nhờ thế công phu tích cực và thành tựu đại
nguyện tu hành của mình, hoàn toàn làm chủ được đối với các cảnh duyên.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật hỏi A-nan: “Nhân duyên nào mà ông
xuất gia ?” Ngài trả lời chân thật: “Con thấy tướng hảo của đức Thế Tôn, con
thích nên phát tâm xuất gia”. Phật hỏi tiếp: “Ông lấy gì để thấy và lấy gì để
thích tướng ấy?”. A-nan thưa: “Con dùng mắt thấy, dùng tâm để thích tướng hảo
của Như Lai”. Đây là vấn đề cốt lõi được nêu lên.
Trong đoạn thất xứ trưng tâm, tức là bảy chỗ hỏi tâm, Ngài nói
năm lần bảy lượt đều bị Phật phủ nhận. Đến cuối cùng các chấp thủ bị bào mòn
hết, đức Phật mới chỉ tâm là cái gì ? Phật dùng ví dụ đưa tay lên, hỏi A-nan
thấy không ? - Thấy. Thấy cái gì ? - Thấy nắm tay. Phật bỏ tay xuống, hỏi A-nan
thấy không ? - Không thấy. Phật quở: - Nếu ông không thấy thì làm sao biết
không có cánh tay.
Cánh tay khi đưa lên, khi không đưa lên, tướng này có thay đổi nhưng
cái thấy lúc nào cũng hằng hữu. Từ đó chúng ta xoay về nhận lại cái chân thật hằng
hữu của mình. Đó là tánh giác hiển hiện qua các giác quan. Cuối cùng, Phật chỉ
ngài A-nan từ xưa đến nay mười phương chư Phật ra đời đều chỉ cái này. Cái này
là cái mà ông thành Phật, thành Tổ. Nếu lầm chấp cái này thì ông thì nhiều kiếp
trầm luân trong sanh tử vậy.
Nếu các giác quan thấy nghe hiểu biết mà không chạy theo trần
cảnh thì, thấy nghe hiểu biết là thấy nghe hiểu biết của Phật. Còn thấy nghe
hiểu biết mà đắm trước vướng mắc trần cảnh thì thấy nghe hiểu biết là thấy nghe
hiểu biết của phàm phu mê lầm. Kinh điển đại thừa cùng với tinh thần thiền tông
của các Tổ không hai không khác, đều dạy xoay lại các giác quan của mình mà nhận
ra cái chân thật hằng hữu.
Ngay các giác quan mà chúng ta nhận và quay về với mình thì an
lạc. Ngược lại, nếu lao ra ngoài thì mênh mông khổ đau. Trong mọi sinh hoạt
hằng ngày, nếu chấp thủ thì chúng ta không giải thoát. Nhận được ý này là nhận
được lời dạy chí thiết của Tổ sư. Người xưa nói: Đừng ỷ ông là người trì giới
mà khinh người phá giới. Nếu chấp cho mình như vầy như kia là người lầm chấp.
Làm sao trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta là người buông được các cảnh duyên,
các dấy niệm một cách triệt để, đó là giải thoát, là dứt sạch gốc mê lầm.
Muốn buông được thì phải có trí tuệ, thiếu trí tuệ không buông
được gì cả. Chúng ta không dễ dàng chấp nhận các cảnh duyên mà phải sáng suốt
nhận được cái nào thật cái nào giả. Giống như con ngỗng chúa, biết uống sữa
chừa nước lại. Sống giữa trần gian này cũng vậy, cái nào đáng bỏ, cái nào không
đáng bỏ, chúng ta cần phải biết rõ. Như vậy mới không lầm và đánh mất của báu
nhà mình. Bảo vệ gương sáng thì đừng để cho nó có bụi, đừng để bị vết trầy trên
gương thì gương mới hoàn toàn trong sáng được.
Việc tu hành hằng ngày của chúng ta cũng như vậy. Đã là thiền
sinh nhiều năm trong viện, người mới tập sự vào viện, chúng ta đều ý thức việc
tu hành của mình phải có một nội dung. Ngay trong sinh hoạt mà chúng ta sống
được với đạo thì dù ở một năm hai năm, một tháng hai tháng trong viện cũng rất
lợi ích. Chúng ta sống với nhau bằng đạo lý, bằng thâm tình Linh Sơn cốt nhục.
Cốt nhục ở đây không có như hình thức của thế gian, mà là tất cả chúng sanh đều
có chủng tánh Phật, đều sẽ thành Phật nên gọi là cốt nhục.
Tinh thần tu học chủ yếu của Thiền viện là buông bỏ. Hòa thượng
dạy tất cả đều do duyên hợp huyễn hóa, không thật. Cảnh không thật, thân không
thật, tâm không thật. Đó là đề án công phu, chúng ta nên xét tới xét lui thì
việc dụng công phu mới đắc lực. Tóm lại chúng ta phải chuẩn bị làm sao để mình
buông được, làm sao làm chủ được các cảnh duyên, đừng chấp thủ, tâm bình thường
an vui. Trong nhà thiền có câu “Bình thường tâm thị đạo”, nghĩa là tâm bình
thường là đạo. Chúng ta hằng sống với tâm bình thường thì đạo lý mới thể hiện.
Còn thấy hai, còn vọng tưởng, muốn dứt vọng, chớ thấy hai. Muốn đến chỗ chẳng thấy
hai, chỉ một phen “Biết vọng liền buông” là được. Buông hết, bố thí sạch, tức
thì yên ổn. Người xưa nói “Tìm tâm chẳng được”. Chỉ câu “Tìm chẳng được” này là
chỗ dứt bặt sạch hết, chẳng còn gì để mò bắt. Thế nên, liền khi đó được xác
minh, một cách tỏ rõ rằng : “Ta đã an tâm cho ông rồi”. Thật là một thủ thuật
giản dị lạ thường chưa từng có, là phương pháp không phương pháp, không để dấu
vết, là Không tam-muội. Chỗ độc đáo này chỉ thầy trò tương đắc, người ngoài
không chỗ dùi mài.
Tuy nhiên, cửa cam lồ đã mở, lòng từ bi của Phật Tổ tràn khắp
nơi nơi. Chúng ta phải tự nỗ lực, không việc gì ngoài mình, đừng chạy lăng xăng
vô ích. Người tu hành không điều được tâm cứ để buông lung, ruổi theo cảnh
ngoài, sẽ vướng các chấp hoặc có, hoặc không, hoặc đoạn, hoặc thường… Xa dần
chánh đạo, bản lý bị chướng.
Bản lý tức là pháp môn không hai, cũng chính là Trung đạo Đệ
Nhất Nghĩa Không. Bản lý đã không sáng, tức nhiên các lối tẽ hiện bày, và như
thế hành giả này lạc vào đường tà bị tà ma ốp. Thân tu đạo chánh, tâm đã theo
tà. Miệng nói việc tà, dự trước đoán sau, lấy làm kế sống. Lâu dần tà lực mất,
hành giả tự mất thăng bằng, hiện thân mang họa, cuối cùng bị đọa đường ác.
Thế nên, các thiền giả phải thận trọng từng bước, chớ vọng cầu, phải
triệt hạ hoàn toàn cơ sở chấp ngã. Đồng thời, mạnh mẽ siêng năng áp dụng công
phu, quyết một đời xô ngã núi si mê, phá tan thành trì ngã chấp. Nên nhớ ! “
Nam nhi tự hữu xung thiên chí…”Vừa nói gì ? Chớ chạy loạn.
… Nói đập là dùng trí tuệ phá vỡ manh mún, để cuối cùng thấy các
pháp không là gì cho mình phải chạy theo, phải vướng. Người tu chúng ta nhất là
tu thiền, phải là người có trí tuệ. Chúng ta vận dụng và áp dụng liên tục trí tuệ
ấy trong mọi sinh hoạt. Lực này mạnh rồi thì tất cả các chấp thủ mới tiêu mòn
được. Chấp có, chấp không, chấp thường, chấp đoạn, chấp tốt, chấp xấu, chấp ta,
chấp người… Vô vàn. Cái nào mình cũng chấp được hết. Người có nhiều mặc cảm,
thì chính những mặc cảm đó dày vò, không cho họ tiến nổi. Bởi vì, chẳng qua nó
cũng là một dạng cố chấp thôi, chứ có gì lạ.
… Người tu hành không điều được tâm cứ để buông lung, thì sẽ xa
dần chánh đạo, bản lý bị chướng. Bản lý tức là pháp môn không hai, cũng chính
là Trung đạo Đệ Nhất Nghĩa Không. Bản lý không sáng, tất nhiên các lối tẽ hiện
bày, và như thế hành giả này lạc vào đường tà, bị tà ma ốp. Tức người tu hành
mà không đi đường ngay lối thẳng lại theo ngõ tẽ đường tà, thì sẽ bị tà ma ốp.
Thân tu đạo chánh, tâm đã theo tà. Miệng nói việc tà, dự trước
đoán sau, lấy làm kế sống. Lâu dần tà lực mất, hành giả tự mất thăng bằng, hiện
thân mang họa, cuối cùng bị đọa đường ác. Chỗ này rất thấm thiết, từ tâm niệm
tu hành mà không nhận được nội dung, chấp nhận và sống theo hình thức bên ngoài
là nguyên nhân dẫn hành giả ri vào đường tà. Chính sự hời hợt không nhận ra nội
dung, bị hình thức lôi dẫn nên tà ma ốp. Đến lúc các hình thức không còn tác động
được nữa, thì kẻ ấy hoàn toàn bị hãm vào chỗ tà ma quỷ mị.
Tóm lại chúng ta là người tu, biết được nội dung, phát huy được
tâm nguyện, luôn sống được với tánh giác, buông được những mê lầm, chấp trước,
không vướng kẹt những ngõ tẽ đường tà, thì đảm bảo người đó đi đến nơi về đến
chốn.
Chúng ta tu là để làm Phật. Có một vị quan đến thăm viện của
ngài Lâm Tế. Khi đi tham quan, ông thấy chư tăng người ngồi thiền, người nằm
ngủ. Ông hỏi Tổ Lâm Tế: “Ở đây Ngài có dạy đệ tử tụng kinh không ? - Không. Có
dạy ngồi thiền không ? - Không. Vị quan ngạc nhiên: Tu hành mà không dạy tụng
kinh, không dạy ngồi thiền thì Ngài dạy làm gì? Ngài đáp: Ta chỉ dạy làm Phật
làm Tổ. Đây là cách dạy siêu xuất của người xưa.
Bản án vô thường đối với chúng ta không có luật sư nào để bào
chữa. Mọi thứ chung quanh đều là huyễn duyên giả hợp. Nhận định như vậy thì
trong cuộc sống hằng ngày các huynh đệ cố gắng siêng năng. Trong kinh nói cần
tu như “cứu lửa cháy đầu”. Ai biết mình từ đây cho tới về sau không có tai nạn
gì… Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta bi quan. Đó là một lẽ thực để chứng
minh thân này không thật, cảnh giới chung quanh đều không thật. Nó đổi thay một
cách nhanh chóng vô thường.
Đã biết tất cả đều không thật thì chẳng có gì
đáng để cho chúng ta quan tâm, nắm giữ. Chúng ta là người khôn ngoan, muốn cho
trên đường dài không bị gục ngã, thì phải buông bỏ gánh nặng của mình. Dù cho
vật gì cũng phải thảy ra, thảy được thì nhẹ. Cho đến sinh mệnh của mình cũng
phải buông bỏ nữa thì mới đạt đạo. Nghĩa là chúng ta phải phá dẹp sạch hết các
thứ tà kiến, tà chấp thì mới nói đến chuyện sinh mệnh thật sự của mình được.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Bạn có thể dùng mã code dưới đây để chèn hình, video từ bên ngoài vào comment:
- Tặng hình : [img] link hình [/img]
- Gửi tặng video: [youtube] link youtube [/youtube]