|
- Muốn trở về nguồn tâm chân thật của mình thì
chúng ta phải làm gì?
- Tâm không phân biệt, buông hết, buông mọi thứ ràng buộc, kể
cả cái muốn này và luôn tỉnh giác thì chúng ta có thể trở về với tâm chân thật
của mình. Nhưng đó chỉ dành cho bậc thượng căn, chứ không dành cho phàm
phu như tôi và ông.
- Vậy những người không phải thượng căn thì phải làm sao để
thể nhập chân tâm của mình?
- Trước hết chúng ta phải nhận ra cái chân tánh vẫn hằng hữu
nơi ta trong từng phút giây. Nó không thay đổi theo thời gian và không
gian. Nó là nguồn sống, vượt ngoài đối đãi, được thể hiện qua tánh nghe,
tánh thấy... Khi nhận được điều này là chúng ta đang bắt đầu từng bước
quay về ngôi nhà thật sự của mình.
- Làm sao nhận thấy nó?
- Không có vấn đề nhận thấy ở đây. “Biết” là đủ.
Khi “nhận thấy nó” thì nó lại biến thành “đối tượng” bị nhận thấy, và đó không
phải là mình.
- Thế thì làm sao?
- Luôn tỉnh giác.
- Tại sao?
- Tỉnh giác là cái biết “như thị”, không chủ thể và khách
thể. Nó thuộc “vô ngã”, nói gì về nó đều sai lầm, gượng ép. Nó vô
ngôn vậy.
- Nếu phải dùng ngôn ngữ để diễn tả, như ngón tay chỉ mặt
trăng, ông có thể nói gì về tỉnh giác?
- Lặng lẽ mà không mê là tỉnh, biết rõ mà không một
tình chấp là giác.
- Nghiệp chướng sâu dày, làm sao luôn được vậy?
- Rất đúng. Chính vì vậy mà ta cần từng bước trở về
nguồn.
- Xin ông nói rõ.
- Như đa phần chúng ta đều biết vì phân biệt mà nảy yêu ghét;
vì yêu ghét mà tìm mọi cách thủ đắc hay loại bỏ, và vì những hành động này mà
ta gây nghiệp thiện hay ác. Đây chính là ái, thủ và hữu (*), 3 trong 12
nhân duyên mà Đức Phật đã dạy. Và do đã tạo nghiệp thiện ác thì dù nghiệp nào
chăng nữa ta cũng vẫn còn nằm trong vòng sanh tử luân hồi, đi lên hoặc đi
xuống.
- Theo tôi biết thì 12 nhân duyên như 12 móc xích gắn chặt
vào nhau, vậy chặt đứt một mắt xích thì toàn bộ cái xích sanh tử không còn
khống chế ta được nữa. Nếu ta chặt đứt ái hoặc thủ thì cũng được, đâu
nhất thiết là phải dứt tâm phân biệt phải không?
- Muốn dứt luân hồi sanh tử thì có rất nhiều cách. Dứt
ái hoặc thủ thì cũng có nghĩa là dứt tâm phân biệt, vì nếu không có tâm phân
biệt thì làm sao có yêu, có ghét, có thủ, có xả.
- Như vậy muốn dứt luân hồi sanh tử ta có tu theo cách gì
chăng nữa, thì pháp tu đó cũng liên quan tới việc dứt tâm phân biệt?
- Tất cả đều như vậy, trừ pháp môn Tịnh Độ.
- Thế nghĩa là sao?
- Pháp môn Tịnh Độ lấy việc chán Ta Bà làm đối tượng từ bỏ,
ưa Cực Lạc làm đối tượng đi tới, lấy Tín-Nguyện-Hạnh là phương tiện để
giúp hành giả đạt mục đích. Nói ngoại trừ, vì hành giả vẫn còn tâm phân
biệt ưa chán, nhưng vì đại nguyện của Đức Phật Di Đà, mà hành giả được cứu giúp
về nơi có đại thắng duyên để tu hành tiếp, nếu thực hành đúng theo pháp môn
này. Tuy nhiên đối với những bậc trung và thượng căn thì pháp môn này
cũng nhắm thẳng vào tâm không phân biệt, để dần dần đi thẳng vào tâm Phật của
chính mình. Lúc đó thì A Di Đà chính là tự tánh và Cực Lạc không đâu xa
cũng tại tâm mình.
- Trước đây ông đã nói về tâm phân biệt nhiều rồi, vậy hôm
nay ông nói về tâm phân biệt có khác những lần trước không?
- Những lần trước tôi nói về tâm phân biệt đưa ta đến luân
hồi sanh tử và tâm phân biệt đưa ta tới giải thoát. Đó là những tâm phân
biệt dễ dàng nhận ra được, nhưng cũng dễ lầm lẫn vì không biết chúng thuộc loại
nào và đôi khi còn lầm lẫn là chỉ có một tâm phân biệt mà thôi. Lần này tôi nói
rõ thêm về hai tâm này, nhưng lại thêm một tâm phân biệt vi tế khác để chúng ta
muốn đi thẳng tới Phật quả thì phải đặc biệt lưu tâm hầu biết chặng đường nào
ta cần đi, chặng đường nào đã đi qua, chặng đường nào ta phải đi tiếp thì mới
khỏi dậm chân tại chỗ và tránh những sai lầm về sau.
- Tâm chỉ có một, tại sao ông lại nói có nhiều tâm vậy?
Riêng về tâm phân biệt, ông lại phân ra có nhiều loại khiến tôi lại càng thắc
mắc khó hiểu, mong ông giải thích.
- Chân tâm chỉ có một, nhưng vọng tâm lại rất nhiều. Do
có phân biệt này mà lại nảy ra phân biệt khác. Ta lầm lẫn, không hiểu rõ ràng,
khiến đường tu gặp nhiều trở ngại và sai lầm mà không hay biết. Đây là
những chỉ dạy của chư Phật và chư Tổ rải rác trong các kinh điển và các luận
giải. Tôi chỉ phân tích, tổng hợp rồi vắn tắt đưa ra vài trao đổi thô
thiển cùng ông mà thôi, chứ chẳng phải tôi dám vọng ngôn tự đặt, mong ông hiểu
rõ điều này.
- Như vậy thì tâm phân biệt có 3 loại phải không?
- Sự thực thì có đến 4 loại. Loại thứ nhất gồm Nhãn
căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn và thân căn. Nhãn căn chính là cái tâm, qua mắt
và dây thần kinh, mà ta thấy hình ảnh. Nhĩ căn chính là cái tâm, qua tai
và dây thần kinh, mà ta nghe được âm thanh. Tỉ căn chính là cái tâm, qua mũi
và dây thần kinh, mà ta ngửi được mùi. Thiệt căn chính là cái tâm, qua
lưỡi và dây thần kinh, mà ta biết được vị. Thân căn chính là cái tâm, qua
thân thể và dây thần kinh, mà ta biết được các cảm giác khác nhau như nóng
lạnh, cứng mềm, đau nhức, dễ chịu v.v… khi tiếp xúc với vật. Đây là
5 căn thuộc tâm, phân biệt được 5 cảnh trần bên ngoài là sắc, thanh,
hương, vị và xúc. Chúng thuần chỉ có nhiệm vụ thông tin là có hình ảnh,
âm thanh, mùi, vị, xúc chạm mà không hề biết đó là hình ảnh, âm thanh, mùi vị,
xúc chạm thuộc loại nào.
- Vậy còn 3 tâm phân biệt khác là những tâm nào? Chúng
liên quan gì với nhau và liên quan với tâm phân biệt thuộcloại thứ nhất kể trên
ra sao?
- Loại tâm phân biệt thứ hai là ý thức hay còn gọi là thức
thứ 6. Tâm này phân biệt được hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm thuộc
loại nào. Ví dụ nhãn căn hợp với mắt và dây thần kinh cho thấy hình
ảnh. Hình ảnh này chuyển tới thức thứ 6, thức này phân biệt cho biết đó
là đóa hoa, là máy bay, là một trẻ thơ, là ông A hay bà B v.v… Tương tự với
các cảnh trần còn lại.
- Như thế nếu nhĩ căn hợp với tai và dây thần kinh cho biết
có âm thanh thì ý thức phân biệt âm thanh này ngay, và cho biết đó là âm thanh
của kèn hay trống, của người hay súc vật, âm thanh đó biểu hiện điều gì … có đúng
vậy không?
- Ông nói rất đúng. Ông có thể suy ra những phần
còn lại. Tuy nhiên, ngoài phân biệt, thức thứ 6 còn có công năng suy
lường, phán đoán, tính toán, đặt kế hoạch. Thức này nói chung thuộc về lý
trí.
- Thế còn tâm phân biệt thứ ba?
- Đó là Thức thứ 7, còn gọi là Mạt Na Thức hay Ý. Thức
này nhận được thông tin về hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm qua phân biệt,
đánh giá của thức thứ 6 (Ý thức) đưa tới thì liền có phản ứng yêu thích (lạc thọ)
hay ghét bỏ (khổ thọ), hoặc cũng chẳng yêu, cũng chẳng ghét (xả thọ). Đây
là thức thuộc loại tình cảm. Vừa có tình cảm (ái) thì liền có phản ứng
chiếm hữu hay ghét bỏ (thủ) và do đó sinh ra nghiệp (hữu), để từ đó tiếp tục đi
trong luân hồi sinh tử.
- Ông nói thức này thuộc loại tình cảm, mà tình cảm thì gồm
hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si v.v… tôi thấy có liên quan gì đến phân biệt đâu mà
ông bảo nó thuộc loại tâm phân biệt?.
- Đây chính là chỗ vô cùng quan trọng mà biết bao người đã
lầm lẫn. Vì lầm lẫn cho là chỉ có thức thứ 6 (ý thức) phân biệt mà không
biết thức thứ 7 (Mạt Na Thức hay Ý) thuộc thể tình cảm nhưng lại là chúa phân biệt.
Này nhé, khi nói Yêu là phân biệt với Ghét, khi nói Sáng là phân biệt với Tối,
nói Chân là phân biệt với Vọng, nói Phải là phân biệt với Trái … Tất cả luôn là
những cặp đối đãi không rời nhau. Khi nói dứt tâm phân biệt là ta nói đến
tâm phân biệt của thức thứ 7 (Mạt Na thức hay Ý). Thức này chính là cái
chấp ngã sâu nặng mà từ vô thủy tới nay ta không gỡ ra được. Không gỡ
được thì luân hồi sinh tử là chuyện đương nhiên không sao tránh khỏi.
- Tôi vẫn còn một chút lấn cấn về sự phân biệt của hai thức
trên? Ông có thể nói rõ hơn không?
- Thức thứ 6 (ý thức) thuộc lý trí, nó chỉ có nhiệm vụ phân
tách, tổng hợp, suy nghĩ tính toán. Nó tạm ngừng hoạt động khi ta ngủ
say, bị bất tỉnh, bị chụp thuốc mê, thần kinh óc quá yếu hay bị tê liệt, hay
khi ta chết. Nó có thể hợp tác với thức thứ 7 (Ý hay Mạt Na thức) thuộc
tình cảm để làm bậy, hoặc hướng dẫn Mạt Na Thức hướng thiện, tu hành.
Thức thứ 7 luôn luôn theo ta dù thức hay tỉnh, dù sống hay chết, đời này sang đời
kia. Thức thứ 7 được ví như con trâu đen, đầy thói hư tật xấu, luôn muốn
xâm phạm ruộng lúa; trong khi thức thứ 6 được ví như mục đồng chăn trâu.
Trâu mạnh (tình cảm mạnh) thì mục đồng theo trâu làm bậy; trâu yếu, mục đồng
mạnh (lý trí mạnh) thì trâu sẽ được mục đồng thuần hóa dần, không còn càn bậy
nữa. Muốn tu hành có kết quả thì ta phải dùng pháp Chỉ Quán. Chỉ là
dừng cái tâm phân biệt, vọng động thuộc thức thứ 7 bằng hành thiền, niệm Phật,
trì chú v.v.... Quán là làm cho tuệ giác bừng nở bằng cách dùng thức thứ
6 chiếu soi, thấy rõ các pháp đều vô thường, khổ, không, vô ngã khiến cái
ngã (Mạt Na thức) bị bào mòn dần để không còn gì bám víu dính mắc. Không
bám víu dính mắc thì giải thoát, không còn luân hồi sinh tử nữa.
- Như vậy ăn uống thấy ngon, thấy dở có phạm lỗi gì không?
- Ông thấy thế nào?
- Thấy ngon thấy dở là có phân biệt. Có phân biệt là
không ổn rồi.
- Ông chạm tay vào lửa, vào nước đá thấy có nóng, có
lạnh là có phân biệt rồi. Thấy nóng hay lạnh, ông có lỗi gì không?
- Không.
- Đúng vậy. Tay xúc chạm biết nóng lạnh vốn không
có lỗi thì lưỡi nếm thức ăn uống biết mặn ngọt, ngon dở cũng nào có gì
sai phạm. Tay xúc chạm mà không biết gì, lưỡi nếm vị mà không biết mặn
ngọt đắng cay, ngon dở thì khác gì vô tri. Ông nên biết nóng lạnh,
ngon dở, nó đến tức khắc, không suy nghĩ và rất tự nhiên, do thức thứ 6 mà
ra. Quan trọng là thấy như vậy mà thức thứ 7 có dính mắc (yêu ghét) hay
không mà thôi? Nóng lạnh , ngon dở cũng chỉ là duyên hợp và tùy theo
nghiệp lực của mỗi người, mỗi loài mà cảm nhận đều khác nhau. Biết ngon
dở thì không có lỗi, nhưng bàn luận và dính mắc lại là vấn đề
khác. Đa số chúng ta đều vướng vào điều này, lầm cho sự phân
biệt của thức thứ 6 (ý thức) là có lỗi, nên cố gắng tránh phân biệt, đâu
biết rằng sự phân biệt của thức thứ 7 khiến tình khởi mới bị dính mắc.
Nên nhớ thức thứ 6 vừa có công nếu biến được Ý hay Mạt Na (thức 7) là trâu đen
biến thành trâu trắng, vừa có tội nếu hùa theo trâu đen tìm cách phá hoại ruộng
lúa. Không biết điều này thì đường tu của ta lạc lối, vì không cho thức
thứ 6 phân biệt tà chánh, quán chiếu thì làm sao trí tuệ bừng nở mà đôi khi còn
làm cho trí óc bị lu mờ và đi đến chỗ ngu ngơ là đàng khác nữa.
- Thế còn tâm phân biệt thuộc loại thứ tư là tâm nào?
- Đây chính là cái thấy (kiến phần) và cái bị thấy (tướng
phần). Tâm này thật vi tế, khó nhận ra. Chính tâm này sinh ra thức thứ 7
để thấy nhân, thấy ngã có thật mà sa vào vòng nghiệp chướng không lối
thoát trong vô lượng kiếp tới giờ. Phá được ngã (thức 7) thì ta được giải
thoát sinh tử, chứng A La Hán, nhưng vẫn chưa phá được kiến phần. Kiến phần
và tướng phần , chỉ có các bậc đại bồ tát mới dứt được mà thôi vì nó không dễ
dàng nhận ra được. Tuy nhiên kiến phần và tướng phần lại do cái vô minh
ban đầu sinh ra. Phá được phần chót vô minh này thì Phật quả mới
thành. Gọi là phá nhưng chẳng có gì để phá, vì chưa toàn giác nên vọng
thấy có cái để phá. Gọi là thành nhưng chẳng có gì để thành vì chúng ta
chỉ quay về với cái sẵn có của mình, cái mà chúng ta quên đi mà thôi.
- Như vậy có cái vô minh ban đầu, rồi từ vô minh này sinh ra
cái thấy (kiến phần) và cái bị thấy (tướng phần). Từ cái thấy và cái bị
thấy sinh ra ngã (Mạt Na thức) và nhân (tức các cảnh trần), rồi thức thứ sáu phân
biệt cảnh trần đưa vào Mạt Na thức khiến tâm ta giao động phân biệt yêu ghét,
thị phi mà sinh ra rắc rối này đến rắc rối khác, càng đi càng xa rời chân tâm?
- Đúng vậy.
- Chúng ta từ vị trí ban đầu là vô minh, đi trong luân hồi
sinh tử trải qua vô lượng kiếp tới nay, rồi bây giờ chúng ta lại cố gắng tu
hành để lại đi ngược trở về cái vô minh ban đầu, như vậy có phải là đi luẩn
quẩn loanh quanh, làm sao giải thoát được?
- Chúng ta từ vô minh ban đầu mà mò mẫm từng bước, từng bước
cố bước ra khỏi bóng tối. Càng đi chúng ta càng học hỏi rút kinh nghiệm
thêm mà tiến hóa văn minh ra. Khi chúng ta bước ra khỏi bóng tối thì lại
bước vào ánh sáng, ánh sáng của nhị nguyên phân biệt, khiến tâm ta từ ù lì dốt
nát chuyển sang linh lợi thông minh, rồi từ đó lại đắm mình vào danh lợi, vật
dục cùng ngã mạn mà chìm đắm trong vòng sinh tử, càng đi càng xa rời tổ ấm, không
lối về.
Chúng ta đã đi từ mê lầm này sang mê lầm khác. Bỗng một
hôm ta sực tỉnh quay về nguồn chân thật, thì từng bước đi là từng bước tỉnh
giác. Điểm xuất phát và điểm quay về gặp nhau, nhưng thật vô cùng khác
nhau, cũng như vòng tròn 360 độ, khởi hành tại O độ và về tại 360 độ. Đi
trong mê, về trong tỉnh, giống mà khác là vậy.
- Bây giờ tôi đã thật sự hiểu con đường mình
phải đi. Xin cám ơn ông thật nhiều.
- Tôi chẳng có gì truyền cho ông, chỉ nói lại những gì
chư Phật, chư Tổ, các vị chân sư đã dạy cho mọi người chúng ta mà thôi. Điều
cần nhất là chúng ta phải lưu tâm tới thức thứ 6 và thức thứ 7. Đừng lầm
là cứ không suy nghĩ phân biệt gì là chúng ta đang đi đúng đường. Chúng
ta cần dùng thức thứ 6 phân biệt qua những quán chiếu để tuệ giác phát triển
hầu chuyển dần cái ngã là thức thứ 7 với tâm phân biệt yêu ghét, tranh đua, hơn
thua … đi vào vô phân biệt, với phương pháp Định Tuệ hay Chỉ Quán song tu
để đưa đến giải thoát sanh tử. Và nên nhớ đây chưa phải là điểm dừng của
Phật quả. Ông nên cẩn thận suy xét, kể cả những gì tôi chia sẻ cùng ông.
- Một câu hỏi chót xin được ông giải
đáp. Ông có gì chắc là thức thứ 7 còn gọi là Mạt Na Thức hay Ý thuộc thể
tình cảm ưa ghét; và thức thứ 6 còn gọi là Ý thức thuộc lý trí, suy nghĩ, tính
toán?
- Ngay chữ Ý và Ý thức đã nói lên điều này. Ngoài ra
trong Đại Bát Niết Bàn và Duy Thức Học cũng nói rằng khi thành Phật thì thức
thứ 7 biến thành “Bình đẳng tánh trí” và thức thứ 6 biến thành “Diệu quan sát trí”.
Bình đẳng nói lên “không phân biệt”, quan sát nói lên “suy nghĩ đo
lường”. Ông còn nghi ngờ gì nữa không?
- Không, tôi đã hiểu. Xin cám ơn ông lần nữa.
- A Di Đà Phật …
Ghi chú:
Ái, thủ và hữu (*)
Nói “ái” nhưng gồm cả yêu, ghét.
Nói “thủ” nhưng gồm cả nắm bắt, buông bỏ.
Nói “hữu” là mang nghiệp lành hay xấu do “ái” và “thủ” tạo ra. Chúng là nhân
hiện tại để nhận quả tương lai.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Bạn có thể dùng mã code dưới đây để chèn hình, video từ bên ngoài vào comment:
- Tặng hình : [img] link hình [/img]
- Gửi tặng video: [youtube] link youtube [/youtube]