|
Người tu
chấp có, không thể tột được lý đạo. Nhưng dù chấp có nhiều như núi Tu Di vẫn
không tai hại như chấp không bằng hạt cải. Đó là tai họa lớn. Vì vậy người xưa
hay nhắc nhở chúng ta đừng nên chấp không, thế mà trong Bát Nhã nói cái gì cũng
không hết. Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không sắc, thinh, hương, vị, xúc
v.v... Trong kinh nói không mà các vị tiền bối bảo đừng chấp không. Vậy hai chữ
không đó khác nhau chỗ nào? Đây là điều tôi muốn giảng trạch cho tất cả Tăng
Ni, Phật tử nắm cho vững, để đường tu chúng ta không bị trở ngại lại còn có thể
tiến nhanh hơn.
Muốn biết chữ Không trong kinh Bát Nhã hay cả hệ thống Bát Nhã,
trước hết chúng ta phải nắm thật vững giáo lý nhân duyên. Người không nắm vững giáo
lý nhân duyên thì không bao giờ hiểu được chữ Không trong kinh Bát Nhã. Chữ
Không của Bát Nhã đứng vững là dựa trên lý nhân duyên, nếu lý nhân duyên là
chân lý thì chữ Không cũng sẽ là chân lý.
Trước hết chúng ta thử xem xét các pháp trên thế gian này có
pháp nào không phải nhân duyên sanh hay không? Như chúng ta nhìn thấy ngôi
chùa, vậy ngôi chùa từ đâu mà thành? Ai cũng biết đều do nhân công, thợ, thầy, gạch,
cát, đá, xi măng v.v... hợp lại thành ngôi chùa. Chớ không bao giờ bỗng dưng nó
tự thành, phải đủ nhân, đủ duyên hội hợp mới có. Nhân duyên thì không phải một
thứ mà rất nhiều thứ tụ hợp lại thành sự vật. Cũng vậy, tất cả muôn sự muôn vật
trên thế gian này có cái nào vượt ngoài vòng nhân duyên đâu.
Gần đây các nhà khoa học khi tìm hiểu đạo Phật, thấy rõ chủ
trương các pháp do nhân duyên sinh của đạo Phật rất phù hợp với khoa học. Bởi
vì khoa học là môn học phân tích sự vật, mà phân tích sự vật thì không vật nào tự
nó có, tất cả đều do sự kết hợp nhiều thành phần mà có. Như vậy vật nào cũng
không đơn độc một nhân một duyên có thể thành. Mà chúng rất phức tạp, do nhiều
nhân nhiều duyên tụ lại. Chúng ta mới thấy cái nhìn của đức Phật hơn hai ngàn
năm về trước rõ ràng, tường tận như thế nào.
Sự vật không tự có, không phải ngẫu nhiên có, cũng không do ai
làm ra, chỉ khi nhân duyên tụ hội thì sự vật hiện có, thiếu duyên thì sự vật ly
tán. Giáo lý Phật chỉ rõ cho chúng ta không còn mê lầm, nghĩ rằng sự vật do
người nào hoặc ngẫu nhiên nó có. Từ cái nhà chúng ta nhìn tới cái bàn, cái ghế,
vật nào không phải từ nhân duyên sinh? Cây cối trước mắt chúng ta cũng là nhân
duyên sinh, rồi đến con người có phải từ nhân duyên sinh không? Nếu nói đơn
giản là do tinh cha huyết mẹ kết tụ lại thành thân con người. Ngày nay với con
mắt y học, người ta phân tích có bao nhiêu tỷ tế bào, phân ra từng loại rồi
phối hợp lẫn nhau. Nhờ chúng phối hợp sinh hoạt, phát triển thì thân chúng ta
còn sống, nếu chúng hư hoại thì thân này tan nát. Như vậy tất cả sự vật trên
thế gian không có cái nào thoát ngoài lý nhân duyên.
Như xét cái đồng hồ, vật gì là chủ thể của nó? Chúng ta không
thể nói cây kim là chủ thể, số là chủ thể. Bộ phận nào là chủ thể cũng không
được, mà do đủ các bộ phận ráp lại thành cái đồng hồ. Như vậy duyên hợp thì nó có,
nếu các bộ phận phân tán ra thì đồng hồ cũng không. Trước mắt chúng ta thấy có
đồng hồ, nhưng thực thể cái đồng hồ có hay không? Chỉ là duyên hợp tạm có chớ
không thật, vì nó không có chủ thể. Bởi không có chủ thể nên đủ duyên nó còn,
thiếu duyên nó mất, không có gì cố định hết. Như vậy làm sao nói đồng hồ là
thật được. Đã không thật thì cái gì là chủ thể của nó, chẳng qua duyên hợp tạm
có, duyên hết hoàn không.
Trong kinh A Hàm đức Phật có dạy, người nào thấy được lý nhân
duyên thì người đó thấy được pháp. Thấy được pháp tức là thấy đạo hay thấy
Phật. Qua đó chúng ta thấy tầm quan trọng của lý nhân duyên như thế nào rồi.
Cũng như vậy, con người do nhân duyên sinh nên không chủ thể, không cố định. Muôn
vật trên thế gian này do nhân duyên sinh cũng không chủ thể, không cố định. Tuy
không cố định, không chủ thể nhưng đồng hồ vẫn có, đủ duyên thì nó hiện tiền.
Hiểu lý này rồi chúng ta mới bước qua bước thứ hai là chữ Không trong kinh Bát
Nhã.
Chúng ta đừng lầm chữ Không trong kinh Bát Nhã là trống rỗng,
không có gì hết. Không là đối với có. Nhưng chữ Không đây là ngay nơi sự vật
hiện tiền mắt thấy, tay sờ mó được song chủ thể nó là không, không cố định. Như
vậy dù mắt thấy, tay sờ mó được mà nói là Không, đó là không chủ thể, không cố
định. Bát Nhã nói Không vì nó do nhân duyên sinh nên không chủ thể. Cho nên chữ
Không trong kinh Bát Nhã còn gọi là tánh Không. Hệ thống Bát Nhã gọi đó là tự
tánh Không. Tức là không có chủ thể, không tự tánh nhưng sự vật vẫn có giả
tướng của nó khi đủ duyên tụ hội.
Con người chúng ta cũng do nhân duyên sinh, không có chủ thể, cố
định. Vậy gọi ta được không? Chỉ là cái ta tạm bợ, còn mất theo duyên, không có
giá trị thật. Thế mà lâu nay chúng ta cứ lầm nhận ta là thật, sự vật là thật.
Nhà Phật gọi lầm nhận đó là vô minh, là si mê. Người học Phật phải có trí tuệ
sáng suốt, thấy đúng như thật. Những gì Phật dạy chúng ta quán sát, thấu suốt
mới đem ra hướng dẫn chỉ dạy cho người khác, chớ không phải học hiểu suông mà
thấy được lẽ thật.
Chúng ta thử nghiệm lại thân mình có phải là tạm bợ hay không ?
Nếu thân chắc chắn chân thật thì không bao giờ hoại. Vì do duyên hợp nên thiếu
duyên thì nó sanh ra bệnh tật rồi đi đến bại hoại. Đó là lẽ thật, không còn gì nghi
ngờ nữa. Vì vậy chữ Không của Bát Nhã là không có thực thể, chớ không phải
không ngơ giữa có và không. Người ta cứ ngỡ cái bàn trước mắt là có, hư không
trống rỗng là không. Đó là cái có không của người đời, còn Không của Bát Nhã là
không tự tánh, không tự tánh tức là không thực thể. Vì vậy đức Phật nói thân
này vô ngã. Vì vô ngã nên không chủ thể, bởi không chủ thể nên tùy duyên mà
thành, tùy duyên mà hoại, không phải lúc nào cũng nguyên vẹn. Đó là ý nghĩa cụ
thể của đạo Phật.
Chúng ta thấy rõ ý nghĩa của chữ Không rồi thì đối với sự vật
hiện tiền mắt thấy, tay sờ mó được là thật có hay thật không? Nói thật có hay
thật không đều sai cả vì nó tạm bợ, chỉ có giả tướng hiện tiền. Như vậy phải nói
sao ? Nói các pháp không thật có, do duyên sinh, chỉ tạm có nên nhà Phật gọi
như huyễn, như hóa. Đến đây tôi nhớ Thiền sư Từ Đạo Hạnh ở đời Lý có bài kệ:
Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không.
Tạm dịch:
Có thì muôn sự có
Không thì tất cả không
Có không trăng đáy nước
Đừng mắc có không không.
Ngài Từ Đạo Hạnh diễn đạt hình ảnh cho chúng ta thấy rất linh
động. Tất cả sự vật nếu nói có thì vật nào cũng có hết. Tại sao? Vì trên giả
tướng mắt thấy, tay sờ mó được. Còn nếu nói không thì tất cả đều không hết, vì chúng
là duyên hợp không thật. Không thật nên nói là không. Như vậy nói có và không
giống như mặt trăng dưới đáy nước. Đêm rằm ta nhìn xuống hồ nước, thấy mặt
trăng hiện dưới đáy nước. Mặt trăng ở đáy nước là thực có hay thực không? Nếu
thực có sao đưa tay vớt lên không được. Nếu thực không sao mắt chúng ta thấy rõ
ràng. Nên gọi là có mà chỉ là cái bóng, chớ không phải không ngơ. Nhưng là bóng
thì nó không thật.
Muôn sự vật ở thế gian này cũng như bóng trăng đáy nước, nhìn
thấy như có nhưng rốt cuộc không thực thể. Cho nên có cũng như không, chỉ vì
duyên hợp tạm có. Người ta cứ ngỡ rằng những gì mắt thấy tai nghe là thực có, nhưng
không ngờ chúng là duyên hợp. Đã là duyên hợp, chúng ta đừng lầm chấp nó thật
thì sẽ không đau khổ. Đây là chỗ khó của người học Phật. Nếu thấy được lý này
thì chúng ta sẽ thấy đạo Phật hay đáo để.
Chúng ta tu khó khăn vì chúng ta thấy cái gì cũng thật nên dễ
nhiễm, dễ kẹt. Nhiễm kẹt thì sự tu không tiến, còn thấy các pháp không thật thì
chúng ta không có gì để chấp, mà không chấp thì đường tu hết sức dễ dàng. Cho nên
si mê là động cơ chủ yếu đưa chúng ta đến chỗ sai lầm. Từ sai lầm đó khiến
chúng ta không thấy lẽ thật, rồi bị chìm đắm trong sinh tử, kiếp này kiếp nọ
không cùng. Tuy nhiên những thứ đó cũng là tướng duyên hợp không thật. Nhưng
không khéo tu chúng ta sẽ không ra khỏi nó, chỗ này rất là quan trọng.
Tôi nhấn mạnh lại chữ Không trong kinh Bát Nhã tức là tánh không
của các pháp. Từ con người cho tới muôn vật đều giả có, không có thực thể. Đã
là giả có mà chúng ta thấy thật thì đó là mê lầm, giả có mà nói không thì trái
với lẽ thật. Vì vậy không thể khẳng định là không. Phải biết muôn sự muôn vật
trước mắt chúng ta là tướng duyên hợp giả có.
Kinh Bát Nhã có câu: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã
Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách”. Nghĩa
là, Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành sâu vào trí tuệ Bát Nhã, Ngài xem thấy tất
cả sự vật, tất cả pháp hay nói gọn là con người gồm năm uẩn: sắc, thọ, tưởng,
hành, thức đều không có thực thể, không cố định. Khi thấy như vậy Ngài liền qua
hết thảy khổ nạn.
Ngày nay chúng ta tụng kinh Bát Nhã từ lúc mới vào chùa cho tới
năm sáu mươi tuổi, biết bao nhiêu biến? Trăm ngàn biến mà khổ ách vẫn là khổ
ách. Bởi vì tụng Bát Nhã thì tụng mà nhìn thấy thân năm uẩn thật. Nếu thấy thân
năm uẩn duyên hợp hư dối thì có ai chửi thân năm uẩn này chúng ta thấy sao?
Thân năm uẩn đã không thật thì lời chửi có thật đâu. Chẳng qua cũng là tạm bợ
hư giả thôi. Mình hư giả, người hư giả, lời nói hư giả, có gì mà khổ, có gì mà
phiền. Cho tới tất cả những thiệt thòi, khổ sở khác, nếu xét kỹ chúng có thật
không? Cũng không thật. Như vậy có gì làm chúng ta khổ sở đâu? Chỉ cần dùng trí
tuệ Bát Nhã soi thấu muôn sự vật, soi thấu lại bản thân mình đều là duyên hợp
hư giả. Thấy được như vậy thì khổ ách nào cũng qua hết.
Như vậy chúng ta chỉ cần tụng một câu đó cũng hết khổ rồi, đâu
cần phải tụng nhiều. Chủ yếu là biết vận dụng lời Phật dạy vào việc tu của
mình. Lời Phật dạy rất chí lý nhưng chúng ta cứ đọc thuộc lòng. Đọc lại cho Phật
nghe phải không? Chúng ta đọc kinh đúng ra là đọc cho mình nhớ và thực hành
theo lời Phật dạy. Nhưng thường Phật tử cứ nghĩ rằng đọc như vậy có phước. Đọc
hai lần phước nhiều hơn một chút. Do không biết lời Phật dạy để ứng dụng quán
chiếu lại bản thân và mọi vật chung quanh, thấu triệt được lẽ thật của nó nên
chúng ta cứ đọc cho Phật nghe hoài, còn mình thì không dính dáng gì hết. Phật
nói chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách, chúng ta tụng hoài sao
không qua được khổ ách? Bởi vì có chiếu kiến đâu! Chiếu kiến là soi sáng, mà
chúng ta không chịu soi sáng thì làm sao thấu tỏ được. Đó là lầm lẫn của chúng
ta.
Đức Phật dạy thân này được kết hợp từ năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn,
hành uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn. Sắc uẩn là tứ đại đất nước gió lửa hợp lại. Thọ
uẩn là những cảm giác của chúng ta như đang nóng có ngọn gió thổi qua nghe mát,
cảm giác ấy gọi là thọ. Lưỡi chúng ta nếm một món ăn nghe ngọt, nghe đắng
v.v... cảm giác ấy là thọ. Mắt chúng ta nhìn thấy người thấy vật, nhận ra đẹp
xấu. Thân xúc chạm sanh thích hoặc chán v.v... Đó là cảm giác của thọ. Sáu căn
tiếp xúc sáu trần có cảm giác khổ vui, không khổ không vui. Đó gọi là thọ.
Tưởng uẩn là tâm mình tưởng tượng việc quá khứ vị lai. Hành là suy tư, những ý
niệm nhẹ nhàng tế nhị. Có chỗ nói hành cũng là ý chí. ý chí vươn lên hay ý chí
mạnh mẽ. Thức uẩn, phân biệt cái này tốt, cái kia xấu, cái này phải, cái kia
quấy v.v...
Như vậy thân chúng ta có năm phần. Một phần thuộc về sắc chất,
bốn phần kia thuộc về tinh thần. Có chỗ khác lại chia thân này do bốn thứ hợp
lại là sắc. Sắc đó gồm bốn thứ đất nước gió lửa. Phần tinh thần bốn thứ: thọ, tưởng,
hành, thức. Hai thứ cộng lại thành tám thứ đều nhau.
Tóm lại, thân này từ vật chất cho đến tinh thần đều do duyên
hợp, không có gì cố định. Xưa Thiền sư Lương Giới, Tổ tông Tào Động, lúc mới
cạo tóc vào chùa, đọc kinh Bát Nhã, Ngài thấy kinh nói: "Vô nhãn, nhĩ, tỹ,
thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp", Ngài bạch với thầy:
- Con có mắt tai mũi lưỡi thân ý, nhưng sao trong kinh nói không có. Nghĩa này
thế nào?
Vị thầy lắc đầu bảo Ngài đi tìm học chỗ khác, vì thầy giải nghĩa
không nổi. Người học đạo thấy kinh nói sao là hay như vậy, không thắc mắc tìm hiểu
nghĩa lý thì chúng ta không tiến bộ được. Ngài Lương Giới đọc kinh không hiểu
liền sinh nghi nên Ngài phăng tìm cho ra. Sau này ngộ đạo Ngài mới thấy được lý
chân thật của Phật dạy. Tất cả lời Phật dạy không có câu nào, lời nào là vô ý
vô nghĩa, tất cả đều chỉ lẽ thật cho chúng ta. Nhưng vì trình độ thấp nên chúng
ta không nắm vững thành ra cứ mê muội mãi.
Trong kinh Bát Nhã có đoạn: "Tướng không của các pháp không
nhơ, không sạch, không thêm, không bớt v.v..." cho tới không mắt tai mũi
lưỡi thân ý, rồi không cả sắc thinh hương vị xúc pháp v.v... tất cả đều không.
Như vậy tánh Không là thực thể không của các pháp. Trên phương diện không thực thể
thì không có pháp gì có thật cả, nên nói không tất cả. Ngũ uẩn không, thập nhị
xứ không, thập bát giới không v.v...
Tới đoạn sau "vô vô minh tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí
diệc vô đắc”. Nghĩa là tất cả pháp như năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới. Năm
uẩn là chỉ thân này, mười hai xứ tức là sáu căn và sáu trần, mười tám giới là căn
trần thức cộng lại là mười tám. Vậy thì thân này, tâm thức này và trần cảnh này
trên tánh Không đều không có, không thực thể. Về thế tục đế, những thứ này
không thật có.
Còn như pháp Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Đế lẽ ra nhất định phải có.
Vì Phật nói pháp Tứ Đế là chân lý, không thể sai chạy, pháp nhân duyên cũng
chân lý, không thể sai chạy được. Nhưng tại sao kinh Bát Nhã nói cũng không luôn,
như vậy chúng ta tu cái gì? Điểm này có nhiều người thắc mắc. Không khổ tập
diệt đạo, không vô minh và không hết vô minh v.v... thì chúng ta tu làm sao
đây?
Tôi thường hay nhắc, pháp của Phật dạy là phương thuốc trị tâm
bệnh của chúng sanh. Chúng sanh có bệnh gì Phật có thứ thuốc ấy. Vậy nếu bệnh không
thật thì thuốc có thật không? Thân ngũ uẩn này không thật tức là bệnh không
thật. Thuốc là để trị bệnh, bệnh đã không thật thì thuốc làm gì có thật. Rõ
ràng pháp của Phật dạy chỉ là phương tiện trị bệnh cho chúng sanh. Nếu chúng
sanh hết bệnh thì thuốc cũng không dùng. Chúng sanh không thực thể thì thuốc
cũng không thực thể.
Người đời thường nghĩ lời phàm tục không thật, còn lời Phật dạy
là chân lý, là thật. Nhưng sự thật Phật chỉ tùy theo bệnh của chúng sanh mà
dạy, giúp họ giải trừ được căn bệnh của mình, chớ ngôn ngữ ấy cũng không thật.
Cho nên nói kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng hay chiếc bè đưa người qua
sông v.v... Hiểu như vậy chúng ta mới không nghi. Tất cả pháp thế gian (tục đế)
và pháp xuất thế gian (chân đế) đều không có thực thể, chỉ là giả tướng tạm bợ,
đối bệnh cho thuốc thôi. Thấy rõ như vậy nên không chấp, sẽ đi tới chỗ cứu kính
Niết Bàn, không còn mê lầm nữa.
Thấy được chữ Không của Bát Nhã rồi thì chúng ta dễ tu. Bởi vì
chúng ta đang mắc bệnh chấp không. Nói tất cả pháp không có chủ thể liền chấp
không ngơ. Nếu ai chấp không ngơ là lầm, bởi sự vật đang có giả tướng hiện tiền
làm sao nói không được. Cho nên chúng ta phải hiểu rõ, Không là không chủ thể,
không cố định, chớ lầm là không ngơ. Hiểu như vậy chúng ta sẽ không còn chấp
nữa.
Tất cả sự vật đến với ta, ta không chấp thì dễ tu biết mấy. Mình
có phải khổ sở để dẹp nóng giận, dẹp phiền não không? Sở dĩ chúng ta phiền não,
chúng ta nóng giận là vì chúng ta chấp nó thật. Nếu biết rõ nó không thật, chỉ
tạm bợ do duyên hợp thì có gì mà chấp. Do không chấp nên thảnh thơi tự tại đi
giữa cuộc đời mà chúng ta không dính mắc gì cả.
Như vậy Phật độ chúng ta hết khổ, hay chúng ta dùng trí tuệ thấy
muôn sự vật xảy đến với mình không thật, liền vượt qua các khổ. Nỗi khổ không
ai cứu ta được mà do ta nhận ra chân tướng của nó không thật thì có gì làm ta
phiền hà, khổ sở nữa! Thấy tường tận đạo lý thì không còn chấp. Nên nhớ chấp là
gốc từ si mê, là nhân của đau khổ. Nhờ trí tuệ sáng không chấp nên đau khổ cũng
không còn. Tụng một bài kinh Bát Nhã mà thấu triệt rồi thì chúng ta tự tại đi
trong cuộc đời. Đó là điều chắc chắn vậy.
Nhưng sẽ có người nói thế này, Phật dạy các pháp hư giả tạm bợ
như kinh Kim Cang nói: "Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào
ảnh". Nếu mọi thứ đều tạm bợ huyễn hóa hết thì không cần làm gì nữa. Cuộc
đời cứ thả trôi thì xã hội sẽ ra sao? Đây là nghi vấn của nhiều người hiện nay.
Thật ra người tu Phật phải có đủ hai mặt: Một là trí tuệ tức trí Bát Nhã, hai
là từ bi.
Chúng ta quán sát thấy rõ tánh các pháp là không, do duyên hợp tạm
có, thấy tường tận như vậy là chúng ta có trí tuệ Bát Nhã. Nhưng giả sử cạnh ta
có người đói khổ, chúng ta cũng bỏ mặc chỉ ngồi cười thôi, không làm gì hết,
như vậy trở thành khô khan tiêu cực. Cho nên phải phát tâm từ bi. Phật dạy có
trí tuệ mà không có từ bi là càn tuệ tức trí tuệ khô. Vì vậy trí tuệ phải có từ
bi thì trí tuệ ấy mới tươi nhuần. Còn từ bi mà thiếu trí tuệ thì gọi là từ bi
mù, nên chúng ta tu Phật phải có đủ từ bi và trí tuệ.
Bởi vì có trí tuệ rồi chẳng lẽ ngồi không, ai khổ mặc họ không
cần biết đến ? Như vậy là ích kỷ, không có lợi ích gì cả. Cho nên người tu phải
phát tâm từ bi, chúng sinh tuy hư giả nhưng lại không biết hư giả. Vì vậy họ khổ,
chúng ta phải thương, phải cứu họ, làm cho họ hết khổ. Như vậy nhờ trí tuệ phá
kiến chấp sai lầm, phá ngu muội tăm tối. Nhờ lòng từ bi thương người mê lầm, ta
chỉ cho họ thấy được lẽ thật, không còn chấp, không còn đau khổ nữa. Đó mới gọi
là làm tròn bổn phận người tu.
Vì vậy trí tuệ và từ bi phải nhịp nhàng theo nhau. Người tu Phật
dù bậc thượng hay bậc hạ cũng phải đồng thời huân tập hai phương diện đó. Phải có
đầy đủ trí tuệ tức trí Bát Nhã và từ bi để độ chúng sanh. Không vị Phật nào chỉ
có trí tuệ mà thiếu từ bi. Hiểu như vậy chúng ta mới sẵn sàng lăn vào cuộc đời
để cứu khổ, để đánh thức những người mê muội. Không nên nói thân giả, cảnh giả,
khổ cũng không thật, có gì đâu lo. Thiên hạ đói cũng là chuyện giả thôi, có chi
phải bận lòng rồi ngồi đó không làm gì hết.
Nên trong kinh Phật dạy phước và huệ, cả hai phải song hành như
nhau, giống con chim có hai cánh. Chim muốn bay được phải đủ đôi cánh, nếu
chích đi một cánh thì chim bay không được. Người tu cũng vậy, phải có trí tuệ
để thấy tường tận lẽ thật của cuộc đời và có lòng từ bi để san sớt, chia xẻ
những nỗi khổ của chúng sanh. Đó mới là người tu Phật chân chính.
Mong tất cả quý vị nghe suy ngẫm và ứng dụng giáo pháp Phật dạy
vào đời sống tu tập của mình. Nếu ứng dụng được sẽ thấy giá trị cao siêu của
Phật pháp, bằng ngược lại chỉ hiểu suông, không thực hành gì cả thì không bao giờ
thấy được sự mầu nhiệm của đạo Phật. Và như vậy chúng ta không xứng đáng gọi là
đệ tử của đức Phật. Tất cả hãy ghi nhớ và cố gắng nỗ lực thực hành để có niềm
vui chân thật ngay trong hiện đời.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Bạn có thể dùng mã code dưới đây để chèn hình, video từ bên ngoài vào comment:
- Tặng hình : [img] link hình [/img]
- Gửi tặng video: [youtube] link youtube [/youtube]