Đức Phật ra
đời vì một đại sự nhân duyên “Khai Thị Chúng Sanh, Ngộ Nhập Phật Tri
Kiến”, với ý nguyện cứu vớt chúng sanh đang bị vùi dập dưới những ngọn
sóng Tham-Sân-Si, ngụp lặn trong biển sanh tử luân hồi, hay đang kêu la gào
thét trong nhà lửa tam giới đầy bi kịch. Chính vì vậy mà sau khi chứng đắc Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội bồ đề, Ngài đã đem giáo pháp ấy làm
phương tiện đả thông bao sự mê mờ của chúng sanh, mở tung bao cánh cửa u minh,
đem ánh sáng hạnh phúc cho muôn loài.
Ngài là bậc Y Vương vì Ngài tùy bệnh mà cho thuốc. Lòng từ bi
của Ngài không phân biệt người giàu sang hay cùng cực. Từ Bà La Môn, Sát Đế
Lợi, cho đến Phệ Xá, Thủ Đà La thuộc giai cấp quyền quý, hay những bậc Quốc
Vương thống nhiếp thiên hạ, cho đến những người bần cùng khốn khổ thuộc giai
cấp thấp nhất của xã hội Ngài đều hóa độ tất cả những ai có duyên gặp Ngài. Để
đối trị với tám vạn bốn ngàn trần lao nghiệp chướng của chúng sanh, Ngài đã có
tám vạn bốn ngàn pháp môn tu học.
Trong đó Nhẫn Nhục là pháp môn giúp cho hành giả đoạn trừ lậu
hoặc một cách hoàn hảo, diệt trừ ngả chấp một cách rốt ráo và cuối cùng là đưa
đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Để có hệ thống và dễ theo dõi,
chúng tôi xin trình bày ba phần chính sau:
- Định nghĩa và
phân tích các thành phần của nhẫn nhục - Phải nhẫn
nhục như thế nào cho đúng pháp - Lợi ích của
pháp tu nhẫn nhục
Thế nào là Nhẫn nhục?
Trong kinh Hoa Nghiêm có câu "Nhất niệm sân tâm khởi,
bách vạn chứng môn khai ", nghĩa là "Một niệm sân hận khởi lên
là mở cửa cho muôn ngàn nghiệp chướng". Thật vậy, lắm người vì
không dằn được cơn tức giận mà gia đình tan nát, chồng vợ chia lìa, thầy trò xa
nhau, bạn thân thành thù oán. Trong Phật Học phổ thông nhẫn nhịn được định
nghĩa như sau:
"Nhẫn nhịn là chịu đựng những cảnh trái mắt nghịch lòng.
Nhục là điều sỉ nhục, điều xấu hổ và làm tổn thương đến lòng tự ái"
Nhẫn gồm có ba bậc: Sanh nhẫn, Pháp nhẫn, và Vô sanh Pháp nhẫn Sanh nhẫn: hay còn gọi là hữu tình nhẫn, tức là
không đem lòng giận dỗi với chúng sanh hữu tình, từ con vật nhỏ cho đến con
người chúng ta.
Pháp nhẫn: hay còn gọi là phi tình
nhẫn, tức là không đem lòng giận dỗi chúng sanh vô tình như cỏ cây, hoa lá, mưa
nắng, nóng lạnh.
Vô sanh Pháp nhẫn: là đức nhẫn tự nhiên của bậc Bồ tát.
Các ngài đã nhận chân được (của các Pháp) thật tánh, thật tướng ấy là duyên
sanh tính hay vô ngã tính. Còn duyên thì hợp, hết duyên thì tan cho nên các
Ngài không còn chấp mình, chấp người. Không còn oán một sinh mạng nào hay chấp
một pháp thể nào cả.
Trong quyển "Phật và Thánh chúng" của TT. Minh Tuệ có
dẫn một câu chuyện đại ý như sau: Một hôm, Xá Lợi Phất cùng La Hầu La vào thành
Vương Xá khất thực thì gặp bọn du côn. Chúng hốt cát bỏ vào bình bát của Xá Lợi
Phất và đánh La Hầu La một trận. Vì chưa dứt được phiền não tập khí dồn nén,
nên La Hầu La bụm mặt khóc thảm thiết.
Sau khi về đến Tịnh xá, Đức Phật hay chuyện gọi La Hầu La đến
dạy rằng : "Này La Hầu La,
nhẫn nhục là đức hạnh vô cùng cao quý trong các hạnh. Muốn thành Phật, thuận
gần Tăng ông phải cố tu hạnh nhẫn nhục. Người biết nhẫn nhục tâm hồn luôn thư
thái, an ổn, diệt trừ được cái họa và trí huệ được phát sinh. Trí huệ là
gươm báu để ta cắt đứt mọi gốc rể của vô minh, tham si và chấp ngã. Nhẫn nhục
là điều kiện làm tuyên dương chánh pháp, là tư lương để sớm được giải thoát
luân hồi sanh tử."
Nhẫn gồm có 3
phần: Thân nhẫn, Khẩu nhẫn, và Ý nhẫn.
Thân nhẫn: khi thân đối diện với nghịch cảnh
như : nắng mưa, nóng lạnh, đói khát hay bị đánh đập tra khảo làm đau đớn
mà chịu đựng không chống cự là thân nhẫn.
Khẩu nhẫn: miệng không thốt ra những
lời độc ác khi bị nhục mạ, mắng nhiếc là khẩu nhẫn.
Ý nhẫn: trong tâm không mang ý căm
hờn, oán giận hay mưu hại trả thù kẻ hại mình là ý nhẫn.
Nhẫn nhục như thế nào là đúng Pháp: Hầu hết mọi hành động trong đời thường đều được xây dựng trên
bản ngã. Khi thấy mình lép vế, thấp cơ trước đối thủ thì họ thường rút lui.
Nhưng lại chờ đợi khi đến thời cơ thì phản công lại hay trả thù. Như Hàn Tín
phải chịu nhục chui lòn qua háng Ác Thiển giữa chợ trước mặt mọi người. Câu
Tiển phải ngậm đắng nuốt cay nếm phân Ngô Phù Sai để chứng minh lòng trung
thành của mình và lấy lòng tin của Ngô Phù Sai. Những nhẫn nhục trên là để chờ
ngày phục thù, là chịu đấm ăn xôi chứ không phải là cái Nhẫn trong đạo Phật.
Trong đạo Phật trước hết phải mở rộng lòng từ bi, không muốn cho
chúng sanh đau khổ, sân hận mà tranh đấu lẫn nhau. Thứ hai là do ý muốn diệt
trừ sân hận, ngã mạn, kêu căn của bản thân mình mà trau dồi từ bi hỷ xả, để
thành tựu tứ vô lượng tâm.
Trong luật sa di, mục Hạ thiên oai nghi, nhập chúng đệ tứ (phần phụ a), Phật có
dạy: "Bất đắc nhân hiếu sự tranh chấp, nhược đại sự nan nhẫn giả, diệc tu
tâm bình khí hòa, dĩ lý luận biện, bất tất tử nhi khứ, động khí phát thô, tức
phi hão tăng giả" nghĩa là "Không được nhân việc nhỏ mà tranh
chấp, nếu việc lớn khó nhẫn phải giữ tâm ý bình tỉnh ôn hòa, dùng lý lẽ để thảo
luận, bằng không từ từ mà đi. Động một chút mà thô tháo thì không phải là tăng
sĩ tốt."
Quả thật là vậy, vì người xuất gia đã từ bỏ tất cả, xa lìa song
thân, làng xóm họ hàng mà còn ôm lấy chuyện trái ngang thì làm sao làm tăng tốt
để quyết tu mà hoằng dương chánh pháp. Trong sử Phật
có dẫn câu chuyện về Ngài Phú Lâu Na xin Phật đi thuyết pháp để độ dân chúng xứ
Duna như sau :
Đức Phật hỏi: Này Phú Lâu Na, giả sử ông đến xứ Duna bị người
chửi rủa thì ông nghĩ sao và xử lý bằng cách nào?
Bạch Đức Thế Tôn, con nghĩ họ vẫn còn tốt đối với con, vì họ chỉ chửi mắng chứ
họ chưa dùng gậy để đánh đập con.
Đức Phật lại hỏi: Vậy nếu họ dùng gậy để đánh đập ông thì ông
nghĩ sao?
Bạch Đức Thế Tôn, con nghĩ họ vẫn còn lòng nhân từ, vì họ chưa đánh chết con.
Đức Phật lại hỏi: Vậy nếu họ dùng gậy đánh đập ông đến chết thì ông nghĩ sao?
Bạch Đức Thế Tôn, con nghĩ họ là ân nhân của con vì nhờ họ mà con bỏ đi được
bọc da hôi thúi nầy, từ biệt được đời sống đau khổ nầy!
Đức Phật khen: Hay lắm! Ông nhẫn được như thế thì ông có thể qua
xứ Duna mà thuyết pháp.
Chẳng bao lâu thì người dân ở xứ Duna đều quay đầu về với Tam
Bảo. Đó chính là nhờ cái Nhẫn trong đạo Phật. Cái Nhẫn xuất phát từ lòng từ bi
muốn cứu vớt tất cả chúng sanh thoát khỏi cảnh trầm luân sanh tử, nên cho dù
thân mình có bị hại, bị giết đi nữa cũng vẫn vui vẻ. Cái Nhẫn đó có sức chuyển
hóa đối phương mà không cần bạo lực.
Trong kinh Nhẫn Nhục, Đức Phật có dạy: "Bố thí mười phương tuy được
phước lớn, nhưng phước đó chẳng bằng nhẫn nhục. Ôm nhẫn tu trí đời đời không
oán hận, lòng dạ an nhiên trọn không độc hại. Nhẫn là áo giáp tránh được đao
binh, Nhẫn là đại thuyền vượt qua bể khổ, Nhẫn là thuốc hay cứu sống muôn
người."
Trong kinh Di Giáo, Đức Phật cũng dạy rằng: "Các ông phải chịu nhẫn đến
nổi dù có ai đến cắt tay chân các ông đi nữa, các ông cũng chớ có giận dữ, cũng
không được buông lời nói ác mà phải hoan hỷ như không."
Tám loại sức mạnh của bậc đại nhân được Đức Phật nói đến trong kinh Tăng Nhất A
Hàm như sau:
Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc
Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ
Sức mạnh của người ăn trộm là vủ khí
Sức mạnh của vua chúa là quyền huy
Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo
Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa
Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát
Sức mạnh của Sa Môn là Nhẫn Nhục
Vì sự quan
trọng của pháp Nhẫn Nhục và để tránh sự bất hòa trong đại chúng, Đức Phật đã
dạy pháp Lục Hòa. Sau nầy có người đã phổ thành thơ cho dễ học như sau:
Thân hòa chung ở cùng nhau
Khẩu hòa ăn nói trước sau dịu dàng
Ý hòa thảo luận suy bàn
Kiến hòa đồng giải hoàn toàn hiểu chung
Lợi hòa phân chia khắp cùng
Giới hòa cố giữ, nguyện chung tu từ.
Ngoài thế gian chúng ta cũng từng nghe ông bà cha mẹ dạy
rằng: "Một sự nhịn chín sự lành." Vì mấy ai có thể khẳng định
mình chưa bao giờ có một lần giận dữ, chưa bao giờ có một lần sân hận. Nếu đã
có thì Nhẫn Nhịn là phương pháp sám hối thiết thực nhất. Để có nhẫn nhục ta
phải biết xem tất cả mọi người hay nói rộng ra là tất cả các loài chúng sanh
trong sáu nẻo luân hồi đều là bà con quyến thuộc. Coi những điều oan ức là quả
mà nhân của nó là một hạt giống mà chính mình đả gieo trong đời quá khứ. Có như
vậy người học Phật sẽ không sợ hãi trước hoạn noạn, không chùng bước trước khó
khăn. Ngược lại người học Phật phải lấy đó làm bạn đồng hành, lấy đó làm lộ phí
đường xa, lấy đó làm tư tưởng trên con đường tìm cầu chân lý.
Tất cả được đúc kết qua "Luận Bảo Vương Tam Muội"
Lấy bệnh khổ làm thuốc thần
Lấy hoạn nạn làm giải thoát
Lấy khúc mắt làm thú vui
Lấy ma quân làm đạo bạn
Lấy khó khăn làm thích thú
Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ
Lấy kẻ chống đối làm nơi ngao du
Lấy thi ân làm đôi dép bỏ
Lấy sự xả lợi làm vinh hoa
Lấy oan ức làm cửa ngỏ đạo hạnh
Đây kết tinh
của Pháp Nhẫn Nhục. Cho nên để có thể đứng vững trong thế gian mà "Thượng
cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh" thì điều tiên quyết phải sử dụng thế tấn
Nhẫn nhục. Thế tấn ấy là "Bát Phong Suy Bất Động", sẽ rèn luyện một
con người bản lãnh, không bị lay động bởi những lời đàm tiếu. Để được như vậy
họ phải luôn tranh đấu với chính bản thân mình hơn là tranh đấu với người. Họ
khắc khe với mình mà rộng rãi với người, như tinh thần trong Kinh Pháp Cú (số
103):
"Dầu tại
bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân giặc
Không bằng tự thắng mình
Ấy chiến công vô địch"
Và như để sách tấn khuyên tu cho chúng đệ tử của mình, HT. Giác Nhiên Đăng có
viết đoạn thi kệ trong Ánh Nhiên Đăng:
"Con người tu thì chi chi nhịn hết
Nhịn nhịn hoài, nhịn nhịn mãi con ơi
Chẳng phải nhịn có ba lần thôi
Mà nhịn mãi đến khi thành Chánh Giác
Con nhịn được dù thân con có thác
Thác thân con mà tâm được nhẹ nhàng
Cỏi Tây Phương con chắc chắn bước sang
Bằng con đọa, Thầy nguyện ra chịu thế"
Lợi ích của pháp tu Nhẫn Nhục:
Nhờ đọc qua nhiều kinh sách chúng tôi có đúc kết lại nhưng lợi
ích của pháp tu Nhẫn nhục như sau:
- Lửa sân hận được dập tắt, kiêu căng hay ngã mạn chấp thủ được
diệt trừ. Gia đình không ly tán, bạn hữu không chia ly. Thầy tớ không đoạn
tuyệt, thế gian không chiến tranh.
- Tâm từ được
chan chứa, tâm bi được tràn đầy. Tâm hỷ được mênh mông, tâm xả được hết thẩy.
Tứ vô lượng tâm luôn được hiện tiền. Kính thưa Chư huynh đệ, vì thấy công đức
lớn lao đó của pháp Nhẫn nhục nên cố nhân đã nhắc nhở với người đời một cách
mạnh mẽ rằng:
Nhẫn,
Nhẫn, Nhẫn, trái chủ oan gia từ đây dứt
Nhịn, Nhịn, Nhịn, ngàn tai muôn họa đồng thời tiêu
Nín, Nín, Nín, vô hạn thân tiến từ đây được
Thôi công danh cái thế hết tự do
Để kết thúc chúng con xin tóm lại ở hai câu đối của HT. Thích Thiện Siêu để kết
thúc bài viết chủ đề Nhẫn nhục:
"Một chút giận, hai chút hờn, lận đận cả đời ri cũng khổ,
Trăm điều lành, ngàn điều nhịn, thong dong tất dạ rứa mà vui."
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Bạn có thể dùng mã code dưới đây để chèn hình, video từ bên ngoài vào comment:
- Tặng hình : [img] link hình [/img]
- Gửi tặng video: [youtube] link youtube [/youtube]