Ma này tức là
lý chướng. Người tu thiền mà lý chướng chẳng trừ, thì chánh định bị nhiễu loạn,
không thể nào yên ổn được. Vì sao sở tri có lỗi như thế? Chính vì biết ta đắc
ngộ, biết ta thông tông, biết ta minh giáo, biết ta hội lý, văn ta lỗi lạc, ta
thấy sâu rộng, ta giữ giới nghiêm, ta được chánh định, ta có trí tuệ, ta đã chứng
không, ta được tự tại, ta không còn ngại, biết ta được thông, biết ta được
diệu, ta đã chứng đạo, ta được thành Phật… Tất cả cái biết đó, đều là lý chướng.
Lý chướng này chẳng trừ, thì chấp pháp khó quên. Chấp pháp chưa quên, thì chân
tâm chẳng hiện. Người trong Tông môn nên phải tự xét. Sớm dứt chướng này.
Chúng ta đã học ma phiền não. Ma này là một loại ngoại ma. Đến đây,
loại ma sở tri là nội ma. Thường người tu theo đạo Phật hay bị ma sự. Ma sự có
hai loại: Một là nội ma, hai là ngoại ma. Nội ma tức là những cố chấp bên trong.
Ngoại ma tức là những vướng mắc bên ngoài.
Những vướng mắc bên ngoài ta không giải tỏa, không vượt qua, không
khắc phục được thì bị nó đánh gục. Như thế chúng ta bị ngoại ma phá hoại, làm
cho đường tu không tiến được. Nếu như chúng ta khắc phục được những ma sự bên ngoài,
nhưng đến những chất chứa, những cố thủ cù cặn bên trong mà không trừ bỏ, không
vượt qua được thì chúng ta lại bị một loại ma nữa. Loại này cứng đầu khó trị,
tuy nhiên nó cũng từ ta mà có, không phải ở bên ngoài đến.
Người biết tu, tức người có pháp trị ma. Pháp này chính là sự tỉnh
sáng và an nhiên, làm chủ được đối với tất cả hiện tượng bên ngoài, đồng thời
khắc phục được những dấy động bên trong. Cách trị ở đây là, vừa có niệm dấy
khởi biết nó không thật liền buông. Nếu chúng ta cho nó là thật thì sẽ lao đầu
chạy theo, rồi tạo nghiệp và chịu quả báo.
Buông được vọng tưởng thì có định, ma lực bên ngoài không làm gì
được chúng ta. Nếu được định thì tuệ giác phát triển. Tuệ giác phát triển thì nội
ma cũng không làm gì được. Bọn ma chỉ là những niệm tưởng lăng xăng điên đảo, nó
là bóng dáng của tiền trần. Chúng dấy khởi lên bất cứ lúc nào trong mọi sinh hoạt.
Nếu làm chủ được tức là chúng ta chiến thắng giai đoạn đầu. Ma sự
bên ngoài không làm gì được chúng ta. Chiến thắng ở giai đoạn này, chúng ta được
an nhiên. An nhiên thì tuệ giác song song phát triển. Tuệ giác phát triển thì
chúng ta biết tận nguồn của nó là không thật, là loài ma. Dù cho chúng có hiện
thành Phật, Bồ-tát cũng không ăn thua, không dính dáng gì với việc của chúng
ta. Do đó nội ma chúng ta cũng làm chủ được, tức là chiến thắng giai đoạn sau.
Cho nên có thể nói ngoại ma là những vướng mắc bên ngoài, nội ma
là những chấp thủ bên trong. Người tu lúc nào cũng sáng suốt thấy rõ ma sự nên
không để nó làm gì được mình. Một niệm dấy khởi mà không làm chủ được thì sẽ bị
chúng ma kéo lôi ngược xuôi, tạo bao nhiêu hậu quả, vô vàn sinh tử không có
ngày cùng. Đó là nỗi điên đảo lớn lao mà gốc gác là do chúng ta không làm chủ
được.
Tỉnh giác, luôn luôn canh phòng chúng ma, đó là tu. Người lúc nào
cũng tỉnh giác canh phòng các giác quan và mọi sinh hoạt của mình, đó là người
đại tinh tấn. Tỉnh táo, sáng suốt, nhìn thấy rõ ràng sinh hoạt của ma, chúng ta
sẽ không lầm đối với chúng nữa. Tại sao ? Dù chưa thật chứng nhưng qua kinh nghiệm
tu tập, chúng ta biết gốc gác luân hồi sanh tử là từ sơ hở, từ sự điên đảo chưa
làm chủ được mình. Biết rõ ràng như vậy nên chúng ta giữ giới trang nghiêm, giữ
tâm định tỉnh trong mọi thời, lúc nào chúng ta cũng tỉnh và biết một cách rõ
ràng. Đó là tuệ phát sinh, tuệ đã sinh thì bóng tối lùi tan, chúng ma đâu còn
chỗ nương tựa. Cho nên người đại tinh tấn là người làm chủ được mình, là người
canh phòng giỏi, không bị mắc mứu bởi những cảnh duyên.
Ta làm tất cả công việc cho chúng trong đạo tràng, từ việc rửa chén,
quét nhà, dâng hương, xách nước, giặt đồ, làm vệ sinh, hoặc khi nấu ăn, cuốc
đất, làm vườn… Tất cả việc đều tựu trung hồi hướng cho con đường Phật đạo của
chúng ta. Một là trang nghiêm đạo tràng, hai là hỗ trợ cho đồng chí đồng hạnh
của mình, ba là để trui luyện thực hiện con người thực của mình. Tại sao phải như vậy ? Bởi vì có khi chúng ta coi thường các việc
này, không phải là việc của mình phải làm. Giả như ở nhà thì những việc lặt vặt
ấy của người khác làm, ta không cần phải làm. Nhưng trong đạo tràng thì khác,
làm bất cứ việc nào cũng tu, việc làm nào cũng là Phật sự, trang nghiêm đạo
tràng và tiêu dung nghiệp tập của mình. Hòa đồng vào tinh thần thể nhập. Thành
ra làm việc là để tu.
Trong đạo tràng này có nhiều cơ sở và phương tiện để trui luyện tinh
thần tu học của anh em chúng ta. Chúng ta nên tỉnh nhớ lời dạy của Hòa thượng,
trong mọi việc làm đều phải tu. Việc nào đã được sắp đặt, được phân công thì
phải gắng gỗ làm. Làm trong niệm sáng suốt, làm trong tinh thần tu tập để tăng
tiến công phu, làm mà không bị nghiệp dẫn. Như thế là tu hành đắc lực. Người đó
biết tu và là người đại tinh tấn.
Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng lên chánh điện lạy Phật, hoặc khấu
chuông, tụng kinh, ngồi thiền mới là tu. Mà trong mọi sinh hoạt chúng ta phải
tu. Rửa chén mà thấy hận trong lòng là đi con đường ngạ quỷ, tức là bị ma sự
trói buộc. Hoặc cuốc đất mà thấy không vui, coi như là một việc làm bắt buộc,
như vậy là chúng ta làm việc trái lại với bản nguyện tu hành của mình. Tuy là
hình thức người tu mà đã là quyến thuộc của ma, để rồi bị dẫn vào con đường
khổ. Khi được phân công mà thấy trong lòng bất an bất ổn, tức là mình chưa biết
tu. Đó là chúng ta còn nuôi dưỡng những ma mị trong lòng, để cho chúng phát
triển thành nội ma.
Những loài ma quái bên ngoài trị không khó. Văn minh đến đâu thì
những loài ấy rút lui đến đó. Nhưng loài ma trong tim gan, trong máu thịt của mình
mới là khó trị. Đây là những vướng mắc, những cố chấp, những cù cặn bên trong mà
mình chưa dám thảy ra. Hãy thảy ra. Vì nuôi nó, chứa nó là chứa giặc, chứa phiền
não để nó dẫn mình đi con đường sai lệch. Trong sinh hoạt của người tu, chúng
ta sẵn sàng mạnh tay ném quách tất cả. Các Thiền sư dạy cây kiếm của chúng ta
phải thật bén. Kiếm này không phải sắc thép mà là trí tuệ. Cái gì không đáng để
trong đời tu của chúng ta thì phải chặt dứt, như thế mới tiến được.
Chúng ta đừng nghe nói ma mà tưởng nó là hiện hình râu tóc ghê rợn.
Ma đây là sự thối chuyển, sự khiếp nhược, sự cố chấp… mình bị vướng mắc những
thứ đó là ma. Có một loại ma rất khó trừ, đó là ma sở tri tức là những chấp thủ
bên trong. Ma này thuộc về lý chướng. Người tu thiền mà lý chướng chẳng trừ,
thì chánh định bị nhiễu loạn, không thể nào yên ổn được. Vì sao sở tri có lỗi
như thế?
Chính vì biết ta đắc ngộ, biết ta thông tông, biết ta minh giáo,
biết ta hội lý, văn ta lỗi lạc, ta thấy sâu rộng, ta giữ giới nghiêm, ta được chánh
định, ta có trí tuệ, ta đã chứng không, ta được tự tại, ta không còn ngại, biết
ta được thông, biết ta được diệu, ta đã chứng đạo, ta được thành Phật… Tất cả
cái biết đó, đều là lý chướng. Lý chướng này chẳng trừ, thì chấp pháp khó quên.
Chấp pháp chưa quên, thì chân tâm chẳng hiện. Người trong Tông môn, nên phải tự
xét. Sớm dứt chướng này.
Chướng này còn có tên là chấp pháp, tức là chấp bên trong. Biết
ta đắc ngộ, nhưng đắc ngộ cái gì ? Mình là người bỏ quên của báu đi hoang, đói
khổ lâu đời, bây giờ được duyên nhận lại của báu cũ, thêm thắc gì đâu mà gọi là
đắc ngộ ? Biết ta thông tông, tức là thông được thiền, thông đạo lý. Biết ta
minh giáo, tức là mình đã nhận, sáng được giáo lý. Biết ta hội lý, văn ta lỗi
lạc, ta thấy sâu rộng, ta giữ giới nghiêm.
Ví dụ mình cho rằng ta giữ giới trang nghiêm, rồi thấy người khác
không ra gì thì xem thường, đó là một chướng ngại lớn lao trên đường tu. Trong
việc tu, giữ giới nghiêm là việc của mình, còn nghiệp tập của người khác, họ
gây nhân thì họ sẽ bị quả báo. Chỉ khi nào đồng đạo tràng, sống chung trong một
qui chế, chúng ta mới nhắc nhở hỗ trợ nhau. Không phải tu có chút thanh tịnh,
có đạo lý, rồi thấy lỗi ông này, bà nọ. Đó là loại ngã kiến làm trở ngại cho
đời tu và Phật sự của chúng ta.
Học tới đây ta thấy cách dạy của Lục Tổ Huệ Năng rất là hay. Tự thấy
lỗi mình, xét lại xem mình có lỗi nhiều hay ít để tự trị. Còn thấy lỗi của người,
thì lỗi quấy đó đã thuộc về mình. Ngài dạy một cách thiết thực như vậy.
Nhưng chúng ta là những người đồng hội đồng thuyền, trong qui chế
chúng ta có pháp thỉnh nguyện. Pháp này là ta thỉnh cầu người khác chỉ cho khuyết
điểm của mình, rồi nguyện sửa đổi. Nếu chúng ta chưa đủ tỉnh, thấy lỗi lầm của
mình để sám hối, thì xin người khác chỉ cho để sám hối chừa bỏ. Ý nghĩa của việc
thỉnh nguyện không phải cố ý chỉ lỗi của huynh đệ mà chủ yếu là hỗ trợ, giúp đỡ
nhau cùng tiến tu. Cho nên người yêu cầu thì ta sẵn sàng chỉ lỗi với thiện chí
của cả đôi bên. Chỉ với tâm chân thật không có sự tị hiềm hay bất cứ một vấn đề
gì khác, như vậy thì tốt.
Có những lỗi chúng ta biết nhưng vẫn cứ làm. Mình không dám đối diện,
tìm phương cách trị nó. Giả như có huynh đệ nào thương, thấy mình làm không
đúng với quy chế thì họ khuyên nhắc. Thành ra tinh thần thỉnh nguyện rất đẹp. Tôi
chỉ cho anh những lỗi lầm, anh vui vẻ nhận và cố gắng khắc phục, rồi lại cám ơn
tôi. Đối với những lỗi lầm của tôi, anh hỗ trợ giúp cho tôi chuyển hóa, khắc
phục. Chúng ta cùng phấn chấn, cùng tiến tu. Như thế thì còn gì đẹp bằng.
Tinh thần đó mà được phát huy thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Chúng
ta từ bốn phương, không phải máu xương ruột thịt gì, nhưng trong đạo tình cốt
nhục Linh Sơn, cùng sống chung, cùng hỗ trợ nhau để tăng tiến thì cuộc sống mới
có ý nghĩa, có lợi. Nếu không như vậy mà mỗi ngày phải đọc qui chế thì cũng giống
như con trâu mang cái ách quá nặng.
Thành ra nói chướng là những trở ngại trên đường tu, làm nhiễu loạn
định tâm của mình. Nếu định đã bị nhiễu loạn thì làm sao có tuệ. Định tuệ không
rời nhau, một trong hai thiếu thì cái còn lại cũng không. Thành ra nói ta được
chánh định, ta có trí tuệ, ta đã chứng không, ta được tự tại… Tất cả những cái
đó đều là chướng ngại. Vì trong lòng chưa yên nên mình còn tơ tưởng, còn vướng
mắc toan tính những việc đó. Chúng ta chưa dứt khoát dành trọn vẹn sinh lực cho
việc tu hành giác ngộ giải thoát của mình. Nghiệm lại, chúng ta thấy mình còn
rất nhiều chướng ngại.
Nên người tu hành tinh tấn, thành công là người làm chủ mình, chớ
không có gì lạ. Người này cắt đứt hết dây mơ rễ má của các kiến chấp sở tri, an
nhiên tự tại. Có những trở ngại nào liền giải tỏa ngay. Người tu hành nếu không
tỉnh, không nhìn lại mình, cứ để thời gian trôi suông ngày qua ngày, tức là đã
đánh mất mình. Đánh mất mình thì bị trôi lăn trong sanh tử, biết chừng nào ra
khỏi.
Vừa quay lưng với gia cảnh lại nắm bắt nội tâm, cứ như thế mà chạy mà tìm, thật
là một trường ảo mộng ! Si mê lui, phiền não dứt, ma sở tri này thuộc pháp chấp
nên khó đoạn. Hàng Bồ-tát đến Đệ Thập Nhất địa, vẫn còn chút sở tri ngu. Với loại
ma này, hành giả phải dày công, chân trí đã phát triển, lại luôn luôn nhắm thẳng
Phật đạo mà tiến, dần dần hàng phục nó.
Tóm lại, biên cương ma Phật không thật có, còn thấy có hai, còn chấp
thế này, thế nọ là ma. Phá vỡ các cái thấy biết hai bên thiên lệch có không đó,
tiến thẳng vào cảnh vức Đệ Nhất Nghĩa Không, tức Như Lai địa bất sanh bất diệt.
Khi này, cả hai danh từ Phật ma không chỗ lập cước, không còn bóng dáng pháp
hay phi pháp, tất cả quét sạch, là chỗ “không pháp có thể tu, không Phật có thể
thành.” Chỗ này tối kỵ lý thuyết suông, phải buông thân mạng, nỗ lực hành trì,
mới có chút phần tương ưng. Cố gắng ! Cố gắng !
Hình ảnh và lời cả quyết của bậc Đại sĩ dưới cội Bồ-đề năm xưa như
còn đồng vọng : “Nếu không đạt đạo dù thân này nát thành tro bụi, ta quyết chẳng
rời chỗ ngồi này”.
Dũng mãnh, tinh tấn vô biên ! Lời cả quyết của đấng cha lành ba cõi.
Từ bi trí tuệ vô tận ! Lời cả quyết của bậc Đạo sư muôn loài. Lời cả quyết của
Người, gông cùm ba cõi tiêu tan. Ánh tuệ nhật chiếu rạng, quét sạch mọi mê mờ
cho chúng sanh.
Chúng con, những chúng sanh bất hạnh! Chỉ nương chút âm vang diệu
vợi của Người. Đau đớn, cố gắng, nguyền xếp mình làm tròn di huấn muôn thuở. Cúi
mong !
Vừa quay lưng với gia cảnh lại nắm bắt nội tâm, cứ như thế mà chạy
mà tìm, thật là một trường ảo mộng ! Đây là lời chú, mình vừa quay lưng với giả
cảnh thì nắm bắt nội tâm.
Quay lưng là sao ? Mình có duyên gặp Phật pháp, cắt bỏ những ràng
buộc thế gian vào đạo. Như vậy tưởng là ổn rồi nhưng không ngờ tới đây, mình bị
những phần bên trong buộc ràng còn chướng hơn bên ngoài nữa. Nếu người tu không
thấy chỗ đó, cứ như thế mà chạy tìm, lây quây mãi thì chỉ là trò đùa mộng ảo mà
thôi. Bỏ việc đời thì mắc việc trong đạo, lăng xăng, lẩn quẩn. Ngoài đời là
mộng ảo, trong đạo cũng là ảo mộng, đâu có gì thật.
Si mê lui, phiền não dứt. Ma sở tri này thuộc pháp chấp nên khó đoạn.
Tức là khi đến một mức độ tương đối tuy nhiên còn những nội chấp, bên trong cho
rằng mình đã được thế này thế nọ, đó cũng là những trở ngại.
Hàng Bồ-tát đến đệ thập nhất địa, vẫn còn chút sở tri ngu. Với loại
ma này, hành giả phải dày công, chân trí đã phát triển, lại luôn luôn nhắm thẳng
Phật đạo mà tiến, dần dần hàng phục nó. Tức là nói tu hành theo con đường Bồ-tát
đạo thì có mười bậc từ Sơ hoan hỷ địa cho đến bậc thứ mười là Pháp Vân địa. Qua
bậc thứ mười một là Đẳng giác. Tuy nhiên đến bậc này thì có những vi tế lăng
xăng của vô minh của chấp thủ, chưa hoàn toàn.
Chúng ta là phàm phu ở ngoài vòng Thập địa Bồ-tát, cho nên biết những
điên đảo, lăng xăng, chấp trước của chúng ta nhiều cở nào? Nhiều không tính kể
hết. Tuy nhiên chúng ta cũng không phải là người khuất phục, khiếp nhược. Là
Thiền tăng, mình biết tất cả những thứ đó không thật. Khi biết nó không thật thì
ta phải thể hiện được cái chân thật, cái tâm của mình.
Nhà thiền nói nhận ra được Phật chất, hằng sống với tánh giác là
người luôn tỉnh sáng, con đường tu hành được bảo đảm. Cho nên có ai hỏi chúng ta
đảm bảo dứt được luân hồi sanh tử không ? Mình sẽ quả quyết dứt được. Dứt kiểu
nào ? Một niệm dấy khởi không theo, thì không bị nó kéo đi. Chúng ta tu được
như vậy thì đảm bảo cắt đứt được vòng luân hồi.
Nếu không làm chủ được thì ngày qua ngày mình giống như người đếm
của báu cho người, như kẻ làm ngân hàng. Một ngày đếm không biết bao nhiêu tiền
nhưng đều là của người ta. Đếm xong mìnhvẫn hoàn tay không. Chúng ta là người tu
thiền, quyết không để cho đời mình luống uổng như vậy. Mỗi ngày trong từng phút
giây, lúc nào chúng ta cũng làm chủ được, giữ được thế tự giác tự tỉnh cho
mình.
Với loài ma này, hành giả phải dày công, chân trí đã phát triển,
lại luôn luôn nhắm thẳng Phật đạo mà tiến, dần dần hàng phục nó. Tóm lại, biên
cương ma Phật không thật có, còn thấy có hai, còn chấp thế này, thế nọ là ma.
Phá vỡ các thấy biết hai bên thiên lệch có không đó, tiến thẳng vào cảnh vức Đệ
Nhất Nghĩa Không, tức Như Lai địa bất sanh bất diệt. Khi này, cả hai danh từ
Phật ma không thể lập cước, không còn bóng dáng pháp hay phi pháp, tất cả quét
sạch, là chỗ “không pháp có thể tu, không Phật có thể thành”. Chỗ này tối kỵ lý
thuyết suông, phải buông thân mạng, nỗ lực hành trì, mới chút phần tương ưng.
Cố gắng, cố gắng !
Tóm lại biên cương ma Phật không thật có, còn chấp là ma, buông được
là Phật, nhảy thẳng vào đất Như Lai an ổn địa của chính mình. Chỗ này không thể
nói suông được. Chúng ta phải cố gắng hành trì.
Hình ảnh và lời cả quyết của bậc Đại sĩ dưới cội Bồ-đề năm xưa như
còn đồng vọng: “Nếu không đạt đạo dù thân này nát thành tro bụi, ta quyết chẳng
rời chỗ ngồi này”. Lời cả quyết của Bồ-tát Sĩ Đạt Đa sau khi bỏ thành xuất gia,
tu hành khổ hạnh, trải qua quá trình tu học ấy, nhưng cuối cùng Ngài thấy chưa
viên mãn. Ngài lần tới cội Bồ-đề, trải cỏ làm tòa ngồi, ngồi vững vàng và phát
nguyện với lời cả quyết: “Nếu không đạt được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác, dù thịt nát xương tan ta quyết không rời khỏi chỗ này. Bởi sự cả quyết
phi thường như vậy nên Ngài chiến thắng ma quân, thành đạo sau bốn mươi chín
ngày đêm quyết tử.
Điều này khiến chúng ta nhớ lại một đoạn nhân duyên, Ngài và Bồ-tát
Cầu Danh cùng xuất gia một lượt. Nhưng Bồ-tát Di Lặc xuất gia rồi thì liên hệ
các nhà quyền quý, thế lực, cúng kính lợi dưỡng, việc tu hành chểnh mãng. Còn
Ngài siêng năng liên tục cả quyết cho nên Ngài thành đạo sớm. Phật đã thành đạo
nhưng ngài Di Lặc chưa rồi việc. Rõ ràng người tu hành siêng năng liên tục, tinh
tiến liên tục thì sẽ sớm thành đạo quả.
Dũng mãnh, tinh tấn vô biên ! Lời cả quyết của Đấng cha lành ba cõi.
Từ bi trí tuệ vô tận ! Lời cả quyết của bậc Đạo sư muôn loài. Lời cả quyết của
Người, gông cùm ba cõi tiêu tan. Ánh tuệ nhật chiếu rạng, quét sạch mọi mê mờ
cho chúng sanh. Chúng con, những chúng sanh bất hạnh ! Chỉ nương chút âm thanh
diệu vợi của Người. Đau đớn, cố gắng, nguyền xếp mình làm tròn di huấn muôn
thuở. Cuối mong ! Đây là lời cuối của đoạn chú này.
Chúng ta là những chúng sanh cách Phật quá xa. Tính theo thời gian
cụ thể thì năm này là 2543 năm rồi, thời gian quá xa nên tôi nói mình là những
chúng sanh bất hạnh. Chỉ nương chút âm vang diệu vợi của Người, nghĩa là chúng ta
chỉ được học, được nghe những gì của Người để lại thôi. Đau đớn cho phận mình,
trầm luân sanh tử cho tới bây giờ mà chưa giác ngộ. Cố gắng, nguyền xếp mình
làm tròn di huấn. Mình là người trong tông môn, là con cháu của Ngài rồi thì
phải cố gắng tu hành để được hết khổ.
Tóm lại đối với những sự chướng bên ngoài chúng ta đã trừ được thì
đến sự chướng ngại bên trong cũng phải cố gắng trừ luôn. Tự thấy mình được cái
này cái nọ, cũng là chướng. Cho nên người tu thiền, đối với những trở ngại bên
ngoài, những chấp thủ bên trong, chúng ta đều phải tiêu dung, đều phải hóa giải
mới yên lòng mà tiến đến nơi đến chốn.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Bạn có thể dùng mã code dưới đây để chèn hình, video từ bên ngoài vào comment:
- Tặng hình : [img] link hình [/img]
- Gửi tặng video: [youtube] link youtube [/youtube]