Khi nói đến
an lạc, trước phải nói đến đau khổ. Nếu nói an lạc suông, quí vị lại tưởng là
mình thảnh thơi lắm, rồi không cố gắng tu hành. Vì vậy khi chúc quí Phật tử một
năm mới hoàn toàn an lạc, chúng tôi sẽ nói rõ nguồn gốc đau khổ của con người
hiện tại và vị lai. Nếu biết được nguồn gốc đau khổ, mình nhổ phăng bứt gốc bứt
rễ nó lên thì an lạc sẽ đến, an lạc thật sự.
Tất cả Phật tử chúng ta là con Phật phải nhìn thấy đúng như cái
nhìn cái thấy của đức Phật. Sau khi giác ngộ rồi, đức Phật thấy rõ được bản
chất của con người như thế nào, Ngài đem ra chỉ dạy để chúng ta thức tỉnh biết
rõ được con người mình. Khi biết rõ được con người mình thì chúng ta mới biết
làm sao để hết khổ và làm sao để đến an lạc thật sự, đó là gốc của sự tu. Nếu
chúng ta không biết bản chất của mình là vui hay khổ cứ sống lây lất qua ngày,
đua đòi theo những hình thức vật chất, chúng ta phải tạo nghiệp thọ khổ, chẳng
những đời này mà còn kéo dài không biết bao nhiêu kiếp nữa.
Vì lòng từ bi, đức Phật muốn cho mọi người hết khổ, nên trước
tiên Ngài chỉ rõ nguồn gốc đau khổ. Thấy được nó, chúng ta mới có thể đào bới
nó lên được. Nếu không thấy nó, chúng ta muốn cầu vui mà cái vui không bao giờ
đến, vì chúng ta có biết cái khổ đâu mà bới lên. Thành ra muốn vui mà con người
cứ khổ, cái khổ cứ tràn tới mãi mãi. Chính con người ở thế gian đang là như
vậy, lúc nào cũng chúc mừng nhau năm mới được an vui hạnh phúc, nhưng đến cuối
năm quí vị thấy có an vui hạnh phúc không? Luôn luôn chúc nhau an vui hạnh phúc
mà kết quả lại không có an vui hạnh phúc chi hết, mà trái lại nhiều khổ đau,
nhiều bực bội. Chúc như vậy chỉ là chúc suông thôi.
Ở đây chúng tôi muốn quí Phật tử thật sự sang năm này là một năm
quí Phật tử tạo nên một cội nguồn của sự an lạc. Muốn tạo nên cội nguồn an lạc
đó trước tiên quí Phật tử phải biết nguồn gốc đau khổ là cái gì? Biết được nó
rồi chúng ta mới có thể bứng gốc bứng rễ nó để thành an lạc.
Nguồn gốc đau khổ là cái gì?
Trong đạo Phật, lúc nào đức Phật cũng muốn chỉ cho mọi người thấy được lẽ thật
của kiếp sống con người. Chúng ta cứ tìm những điều quanh quẩn bên ngoài mà
những điều đó dù chúng ta thấy được lẽ thật của chúng, cũng là lẽ thật bên
ngoài thôi; còn bản thân chúng ta chưa biết chưa thấy đó là một khuyết điểm lớn
lao. Vì vậy đức Phật nói rõ bản chất của con người là khổ hay vui? - Khổ! Vừa
nghe thoáng qua chúng ta cảm thấy bi quan, nhưng đó là sự thật.
Vì sao bản chất con người là đau khổ?
Đức Phật dạy đau khổ chia ra hai phần:
1. Đau khổ do sự cảm thọ.
2. Đau khổ do lòng tham ái.
Như vậy chúng ta cần xác định lại kiếp sống con người là đau
khổ, chớ không phải là an vui. Đức Phật dạy những đau khổ của con người là do:
- Sanh, già, bệnh, chết.
- Ái biệt ly khổ.
- Oán tắng hội khổ.
- Cầu bất đắc khổ.
- Ngũ ấm xí thạnh khổ.
Chúng ta ở trên thế gian này thật là khổ. Trong cuộc sống quí vị
muốn một trăm điều, kết quả được bao nhiêu? Nhiều lắm là hai chục điều thôi tức
là có hai chục phần trăm được như ý. Đó là tôi nói ưu đó, có khi còn chưa được
như vậy nữa! Còn tám chục phần trăm là bất như ý, tức là không toại nguyện, mà
không toại nguyện là đau khổ. Nhìn tổng quát, đức Phật nói cuộc đời con người
là đau khổ, sanh là khổ. Đó là cái khổ thứ nhất.
Già có khổ không? Có ai nói già mà vui đâu! Già thì thân thể yếu
gầy bệnh hoạn, rồi răng rụng da nhăn, chân mỏi gối dùn, đi đứng lụm cụm, đủ
chuyện phiền hà, nên nói già là khổ. Bệnh có vui không? Bệnh là khổ rồi, không
ai chối được.
Còn chết thì sao? Là đại khổ!
Như vậy thử kiểm lại ở trần gian này, có người nào thoát khỏi sanh lão bệnh tử
hay không? Ai cũng sanh ra rồi già đi, ai cũng phải bệnh hoạn rồi cuối cùng là
chết. Không một ai thoát khỏi bốn điều này, cho nên nói kiếp người đau khổ là
như vậy.
Đến ái biệt ly: thương mà xa lìa. Những người mình thương rất là
thương mà xa lìa, có gì khổ cho bằng! Có người nào khỏi xa lìa thân nhân mình
đâu, thân nhất là cha mẹ, vợ chồng, anh em, bạn bè, có lúc cũng phải xa lìa.
Như vậy gọi là ái biệt ly khổ. Oán tắng hội khổ: ghét mà gặp mặt nhau cũng khổ.
Những người mình không thích, không muốn thấy mặt mà cứ ở ngay trước mắt mình hoài
thì làm sao vui được! Cầu bất đắc khổ: mong cầu mà không được như ý cho nên
khổ. Cái khổ thứ tám là ngũ ấm xí thạnh khổ. Năm ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức
cấu hợp thành thân này, luôn luôn chống đối, bất an cho nên đau khổ.
Tám điều khổ vừa kể trên, chúng ta đều phải đa mang suốt cuộc
đời, không thiếu sót một điều nào. Có ai khỏi sanh già bệnh chết? Có ai không
xa lìa người thương, không gặp gỡ người mình ghét? Có ai cầu điều gì được điều
nấy đâu? Tám điều khổ của con người là sự thật, không chối cãi được. Đau khổ là
một lẽ thật không làm sao tránh được, nó luôn luôn theo dõi ép ngặt khiến chúng
ta bất an. Nếu có gượng cười gượng vui, chỉ trong giây lát rồi cũng khổ. Ví dụ
như khi gặp bạn bè vui tươi chốc lát, đến lúc về nhà đau chân, mỏi lưng… cảm
thấy khổ thân. Như gặp người thân thì mừng rỡ, nhắc lại người xa cách thì than
khóc. Gặp người mình thích thì tươi cười, gặp người mình ghét thì bực bội. Cả
ngày vui buồn thay đổi luôn luôn, điều vui thì ít, đau khổ thì nhiều. Bản chất
con người là đau khổ. Đức Phật gọi đó là Khổ đế: Khổ là một lẽ thật không chối
cãi được.
Tám điều khổ do đâu mà ra? Gốc từ cảm thọ mà ra. Cảm thọ chia ra
làm hai phần:
1. Cảm thọ sai biệt của sáu căn rồi chấp nê sanh đau khổ.
2. Cảm thọ do đuổi theo thú vui rồi giành giật sanh đau khổ.
Vì sao cảm thọ sai biệt của sáu căn gây nên đau khổ? Chúng ta ai
cũng có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu căn này có những cảm thọ
ngoại cảnh không giống nhau. Thí dụ như mắt chúng ta nhìn thấy sự vật, nếu vị
nào có con mắt nghệ thuật, khi nhìn bình hoa đặt trên bàn thì trầm trồ khen hoa
trưng đẹp mắt. Nhưng một người khác không có mắt nghệ thuật nhìn mấy nhánh hoa
lưa thưa ngả nghiêng không có gì đẹp cả. Người bảo đẹp, người cho là xấu, hai
người không đồng ý nhau rồi sanh bực tức tranh cãi. Con mắt xúc chạm với sắc
trần, người thấy đẹp, người thấy xấu là do cảm thọ sai biệt mà ra. Như vậy ai
đúng? Nếu không ai đúng thì sao lại tranh cãi? Thật là vô lý. Mỗi người có cái
thấy không giống nhau. Do cái thấy khác nhau, rồi không đồng ý với nhau nên
sanh cãi rầy. Nguyên do là vì chúng ta không có nhận xét đúng đắn.
Đến cảm thọ sai biệt của lỗ tai. Thí dụ hai ba người bạn ngồi
chơi, một người kể chuyện phải quấy trong xóm, rồi nói: Những người nghèo thật
đáng thương. Người bạn khá giả nghe nói như vậy thì vẫn bình tĩnh, trong khi
người bạn nghèo cho rằng mình bị khinh khi. Cùng nghe một câu chuyện, mà một
người thì không bị xúc phạm, còn một người thì bị tự ái, bị mặc cảm. Lời nói có
giá trị bằng nhau, nhưng khi nghe rồi sự cảm thọ khác nhau, nên sanh vui buồn
khác nhau. Một người cho rằng không có chỉ trích người nghèo, một người cho
rằng mình nghèo nên bị khinh khi, hai người không đồng ý nhau nên sanh cãi vã.
Đó là do sự cảm thọ sai biệt của lỗ tai.
Sự cảm thọ của mũi có giống nhau không? Như người miền Nam nghe
mùi sầu riêng nói: thơm quá! Nhưng người miền Trung bảo: hôi quá! Cùng một mùi
sầu riêng người nói thơm, người nói hôi. Như vậy ai đúng? Người nói mùi sầu
riêng là thơm sẽ cãi với người kia. Người nói mùi sầu riêng là hôi sẽ cãi lại.
Hai người sẽ đi đến ẩu đả nhau. Ai đúng? Ai sai? Người bàng quan ngoại cuộc nếu
ở miền Nam thì cho rằng người ngửi thơm là đúng, nếu ở miền Trung thì cho người
ngửi hôi là đúng. Do sự huân tập khác nhau nên sự cảm thọ có sai biệt. Sự tranh
cãi đúng sai thật là vô ích, không khôn chút nào hết, lại làm buồn lòng nhau,
chẳng phải nguồn gốc của đau khổ sao? Buồn giận nhau, không ngó mặt nhau, gọi
là oán tắng hội, đau khổ từ đó mà sanh.
Sự cảm thọ của lưỡi cũng khác nhau! Thí dụ cô đầu bếp làm thức
ăn. Cô nấu canh nêm nếm đàng hoàng rất là vừa ý. Nhưng vì cô quen ăn mặn nên
những người quen ăn lạt chê là nêm canh quá mặn. Cô đầu bếp tức giận nghĩ mình
nấu nướng kỹ lưỡng, nêm nếm vừa ăn lắm mà còn bị chê trách! Chung qui chỉ vì
thói quen của cái lưỡi người quen ăn mặn, người quen ăn lạt mà thôi. Người quen
ăn mặn cảm thấy vừa miệng thì người quen ăn lạt cho là mặn và ngược lại, người
quen ăn lạt cảm thấy vừa ăn thì người quen ăn mặn cho là lạt. Như vậy lấy đâu
làm tiêu chuẩn? Vì sao lại cãi nhau cho sự cảm thọ của mình là đúng? Mỗi người
có khẩu vị khác nhau. Cùng một thức ăn, người khen ngon, người chê dở. Người
thích món ăn này, người thích món ăn kia, vì mỗi người có cảm thọ riêng biệt
theo thói quen của mình. Chẳng những chúng ta có thói quen đời này mà còn cả thói
quen của đời trước nữa. Thí dụ có người khi cha mẹ sanh ra chỉ ăn chay lạt,
không ăn thịt cá được. Vì lý do gì? Có phải là cảm thọ quá khứ còn lại, nên
không thích mùi thịt cá. Lại có người cha mẹ bảo ăn chay, thì thích dùng thức
ăn mặn. Như vậy là do thói quen của mọi người, hoặc ở hiện tại, hoặc đã huân
tập trong quá khứ. Chúng ta không nên chủ quan bắt buộc người khác phải giống
mình. Nhưng ở trên thế gian này phần đông chúng ta đều chủ quan muốn ai cũng
giống mình, nhất là con cái trong nhà. Nếu con trong nhà làm khác ý cha mẹ, cha
mẹ sẽ bực tức giận trách rầy la, tạo bao điều đau khổ trong gia đình. Tất cả
cũng do sự cảm thọ sai biệt mà ra.
Cảm thọ của thân như thế nào? Cũng riêng biệt tùy theo mỗi
người. Thí dụ: Hai người ở chung một căn phòng, một người mập béo, một người
gầy ốm. Căn phòng có một cửa sổ, khi trời vừa mát người gầy ốm cảm thấy lạnh
vội đi đóng cửa sổ… Người mập béo nghĩ thế nào? Cảm thấy bực bội, khí trời nóng
bức vừa dịu mát lại đóng cửa sổ, không giận sao được! Rồi hai người cãi vã
nhau, có khi đi đến ẩu đả. Như vậy lẽ thật ở đâu? Đó là do cảm thọ sai biệt của
thân nên người ta bất đồng ý với nhau rồi sanh bất hòa, đó là nguồn gốc đau khổ.
Thứ sáu là cảm thọ của ý. Điều này là quan trọng hơn hết. Cảm
thọ của ý là gồm nghiệp của quá khứ và thói quen của hiện tại. Mỗi người chúng
ta sống trong hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau nên được sự giáo dục và
hiểu biết khác nhau. Người thấy thế này là phải, người thấy thế kia là phải.
Thí dụ: Một người sanh trong gia đình theo đạo Phật từ thuở bé, một người sanh
trong gia đình theo đạo Chúa từ thuở bé. Hai người ngồi nói chuyện với nhau, do
sự huân tập khác nhau nên có những cảm nghĩ khác nhau. Người tin Chúa cho đạo
Chúa là đúng, không chấp nhận đạo Phật. Người tin Phật cho đạo Phật là hay,
không chấp nhận đạo Chúa. Hai người tranh luận với nhau, có những quan điểm bất
đồng, bực bội cãi vã lẫn nhau. Đó là nguồn gốc của đau khổ. Đến đời sống của vợ
chồng trong gia đình cũng vậy. Người chồng có sự huân tập của người nam, lo
việc rộng lớn ngoài xã hội, người vợ có sự huân tập của người nữ, lo việc tỉ mỉ
trong nhà. Hai vợ chồng có hai huân tập khác nhau, nên thường không đồng ý kiến
với nhau. Ai cũng thấy mình là đúng, người kia là sai, nên không ai chịu thua
ai, cuối cùng đi đến ly dị, hậu quả là con phải chịu đau khổ! Nguyên do từ đâu?
Chỉ do sự cảm thọ sai biệt, rồi chấp chặt cho quan niệm của mình là đúng, bắt
người khác phải nghe phải thấy như mình, phải có những cảm nghĩ những hiểu biết
như mình. Nếu không đồng ý nhau thì lắc đầu than thở: Sao không có ai là bạn
tri kỷ với mình! Thử hỏi trên thế gian này có mấy người tri kỷ giống mình như
một? Chắc là không rồi, vậy mà buộc lòng phải sống chung nhau thật là quá đau
khổ!
Thế thì phải làm sao cho hết đau khổ! Chỉ đừng chấp nê là hết
đau khổ! Cùng một mùi trái cây tôi ngửi cho là thơm cũng đúng, chị cho là hôi
cũng đúng theo thói quen của mỗi người, như vậy hòa nhau, tránh được sự tranh
cãi. Cùng một thức ăn chị nếm nghe mặn, tôi nghe lạt, cả hai đều đúng theo thói
quen của cả hai, tất nhiên hòa nhau không có tranh cãi v.v… Nếu còn chủ trương
sai biệt cho mình là đúng, người là sai, là còn tranh cãi, còn đau khổ. Nhận
chịu sự đau khổ là khôn hay không khôn? Quả thật không khôn. Nhưng nếu ai bảo
là mình ngu thì mình lại nổi giận lên, có phải là mâu thuẫn không? Nếu còn chấp
nê là còn đau khổ. Hiểu như vậy rồi, chúng ta phải thông cảm với nhau, bỏ qua
tất cả những sự sai biệt để sống hòa thuận với nhau từ trong gia đình đến ngoài
xã hội. Nếu biết chấp nê là sai quấy thì phải mạnh dạn dẹp tự ái đến xin lỗi
người, làm hòa với nhau thì cuộc đời sẽ bớt được nhiều đau khổ.
Những người đến tôi để thưa kiện, đều than không ai thông cảm
với mình hết. Vì chấp sự cảm thọ của mình là đúng thì làm sao có người thông
cảm với mình được! Nếu buông tất cả chấp nê thì mọi người đều thông cảm với
mình. Chúng ta tu phải biết rõ lẽ thật đó, bỏ tất cả sự chấp nê do cảm thọ sai
biệt, thì đau khổ tự dứt. Không phải cầu Phật ban cho điều gì, không phải cầu
xin nơi miếu này lăng kia, mà phải biết rõ nguồn gốc của đau khổ là do sự cảm
thọ sai biệt của sáu căn, rồi chấp chặt vào đó, rồi tranh đấu, giành giật, hơn
thua với nhau, cuối cùng là đau khổ. Biết như vậy chúng ta buông xả tất cả sự
chấp nê là chúng ta hết đau khổ.
Nguyên nhân thứ hai của đau khổ là đuổi theo thọ lạc. Hiện giờ
chúng ta đang sống, ai cũng muốn cuộc đời được hạnh phúc. Thử hỏi quí vị cái gì
là hạnh phúc? Chúng ta chỉ nói đến hạnh phúc mà không biết cái gì là hạnh phúc?
Được ăn ngon, mặc đẹp là hạnh phúc chăng? Được nhiều tiền của, ở nhà to rộng là
hạnh phúc chăng? Được những gì mình mong muốn là hạnh phúc chăng? Quí vị thử
kiểm lại những điều đó có phải là hạnh phúc thật hay không? Con người ai cũng
mơ ước hạnh phúc, mơ ước mãi mà không bao giờ toại nguyện. Vì sao? Thí dụ: Khi
đang đói chúng ta nghĩ có một bữa cơm ngon, hạnh phúc biết mấy! Nhưng khi
được bữa cơm ngon, ăn đầy đủ rồi, hạnh phúc còn không? Hạnh phúc qua mất rồi!
Như vậy hạnh phúc chỉ có trong chốc lát thôi, rồi qua mất không còn. Đang đi
bộ, chúng ta nghĩ được một chiếc xe đạp đi, chắc là hạnh phúc lắm. Nhưng khi
được chiếc xe đạp đi lọc cọc ba bốn hôm rồi nó hư, lúc đó có hạnh phúc không?
Như vậy hạnh phúc không bền, không thật, mà thế gian cứ đuổi theo cho nó là bền
là thật! Hạnh phúc qua rồi mất, đuổi theo cái qua rồi mất thì hạnh phúc ấy quả là
không thật. Biết hạnh phúc không thật mà chúng ta mơ ước nó hoài, thì mơ ước đó
trở thành hão huyền.
Khi chúng ta mơ ước một điều gì, nghĩ rằng khi được nó hạnh phúc
biết bao! Nhưng khi được rồi, còn hạnh phúc nữa không? Có gì hạnh phúc hơn, khi
làm mệt nhọc được nằm nghỉ một chốc lát, hạnh phúc biết mấy? Nhưng nếu bị bắt
buộc nằm một ngày, còn hạnh phúc hay không? Nếu nằm một ngày không được đi đâu,
lúc ấy cũng bực bội. Thành thử hạnh phúc không có thật, nó chỉ có trong một
giai đoạn nào thôi. Thí dụ chúng ta đang gánh gồng hết sức là nặng, nếu có ai
đỡ gánh giùm mình, lúc ấy chúng ta cảm thấy nhẹ bổng lên, hạnh phúc biết mấy!
Nhưng nếu hết gánh rồi đi một lúc, chúng ta không còn thấy hạnh phúc nữa. Như
vậy hạnh phúc chỉ có trong chốc lát. Trong lúc khổ đau, qua được cơn khổ đau
tạm gọi là hạnh phúc. Hạnh phúc là do qua cơn khổ đau, chớ nó không có thật.
Cái không thật mà chúng ta tưởng chừng cả đời hưởng hoài thì làm sao có được.
Chúng ta hiện giờ mong mỏi ước mơ là mong mỏi ước mơ cái gì? Ước
mơ hạnh phúc. Ước mơ hạnh phúc là ước mơ được: một là ăn ngon, hai là mặc đẹp,
ba là được những nhu cầu sung túc, bốn là được tiền bạc dồi dào, năm là được
gia đình sung sướng vui vẻ v.v… Những điều ước mơ đó được rồi mất, không còn
nguyên vẹn mãi. Như vậy hạnh phúc có hay không? Chúng ta mong muốn những điều
đó phải lâu bền mãi mãi, nhưng trên thế gian này đâu có điều gì lâu bền mãi
mãi. Như vậy suốt cuộc đời mình bị chúng chỉ huy sai sử. Như mỗi sáng thức dậy,
chúng ta chuẩn bị lo cho bữa ăn sáng, rồi đến bữa trưa và bữa chiều. Chúng ta
chạy loanh quanh tìm kiếm những thức ăn cho vừa miệng, tức là suốt ngày chạy
theo cái thọ lạc của lưỡi. Những thức ăn vừa miệng khi để vào lưỡi có cảm giác
ngon, nhưng khi nuốt qua rồi cảm giác ấy không còn nữa. Như vậy mà chúng ta cứ
chạy theo cái thọ lạc, chạy mãi không có ngày cùng, cho đến ngày nhắm mắt cũng
chưa vừa ý.
Đến cảm thọ của lỗ mũi, lỗ tai, con mắt cũng vậy. Cái nhà nhìn
thấy phải đẹp, chậu hoa, chậu kiểng phải vừa mắt v.v… Như vậy con người chạy
tìm cái thọ lạc suốt cuộc đời không có ngày cùng. Thọ lạc là tạm bợ giả dối
không thật. Đuổi theo thọ lạc tức là gởi gắm, hiến dâng đời mình cho cái giả
dối. Vậy mà chúng ta thấy hài lòng chạy theo nó từ năm này sang năm khác, rồi
cả một cuộc đời bị thọ lạc của sáu căn sai sử. Cả một cuộc đời chạy theo thọ
lạc, nếu có ai ngăn chận thì nổi giận ngay. Thí dụ: Đi chợ thấy bó rau ngon,
chúng ta vừa ngồi xuống lựa, chợt có người đến mua trước, thì cãi vã nhau liền.
Có chậu kiểng đẹp chưa kịp hỏi giá, chợt có người khuân đi, chúng ta bực bội
ngay. Chỉ vì thọ lạc của sáu căn mà chúng ta giành giật, hơn thua, tranh đấu
với nhau cả đời không dứt. Có phải thọ lạc đã chỉ huy lôi cuốn cả cuộc đời mình
không? Cũng vì thọ lạc mà chúng ta phải hận thù oán ghét lẫn nhau. Cảm thọ lạc
nguyên là vô thường. Vì cái vô thường đó chúng ta lại gây chuyện hơn thua, phải
quấy, tranh giành với nhau, có phải là việc làm đúng chân lý hay không? Vậy mà
chúng ta bị nó chi phối hoàn toàn không còn giây phút nào rảnh rỗi. Quí vị
thường nói: cả ngày tôi không rảnh, là tại sao? Chỉ vì đuổi theo thọ lạc: muốn
ăn mặc vừa ý, muốn thấy nghe vừa ý v.v… rồi chúng ta xoay quanh hết ngày này
đến tháng kia không rảnh phút nào. Cảm thọ đã chỉ huy cả một cuộc đời chúng ta,
lại gây ra bao nhiêu hận thù đau khổ!.
Ái cũng là nguồn gốc của khổ đau. Trong nhà Phật, ái chia làm ba
thứ:
1. Ái ngã.
2. Ái thân thuộc.
3. Ái sự nghiệp tiền của.
Ái ngã là khổ. Có ai không tự thương mình đâu, dù mình có xấu đi
nữa, con mắt lệch một bên hay lỗ mũi xẹp một chút, mình cũng thương mình. Nếu
biết mình đẹp, thì mình càng thương mình hơn nữa, ái ngã chặt hơn nữa. Vì
thương mình nên những gì mình muốn mà không được thì khổ. Như mình muốn trẻ
nghe nói già là rầu, mình muốn khỏe mạnh mà bị bệnh hoạn là khổ, mình muốn sống
lâu nghe nói sắp chết lại càng đau đớn. Vì quá thương mình cho nên bị bốn cái
sanh già bệnh chết làm khổ. Ái ngã là gốc của bốn khổ vậy.
Ái thân thuộc có hai cái khổ. Một là ái biệt ly khổ. Vì quá
thương người thân thuộc mà phải chia lìa nên chúng ta đau khổ. Có ái thì có
tắng, tức là có yêu thì có ghét theo sau. Nên người nào yêu nhiều thì ghét cũng
nhiều. Vì yêu nhiều nên người mình yêu mình thương tha thiết, người mình ghét
mình cũng ghét đắng cay không muốn nhìn mặt. Vì vậy mình khổ với người mình
thương bao nhiêu, mình cũng khổ với người mình ghét bấy nhiêu. Cho nên ái biệt
ly khổ đi đôi với oán tắng hội khổ. Đó là hai cái khổ do ái thân thuộc.
Ái tài sản sự nghiệp cũng là nguồn gốc của đau khổ. Có ai muốn
gia sản của mình càng ngày càng kiệt quệ đâu! Ai cũng muốn gia sản của mình
càng ngày càng to lớn. Muốn mà không được như ý thì đau khổ, tức là cầu bất đắc
khổ. Như vậy quí vị thử kiểm điểm lại có phải tám cái khổ của chúng ta đều nằm
trong ái mà ra: ái ngã, ái thân thuộc và ái sự nghiệp tiền của. Ái của mình cạn
thì tám cái khổ theo đó mà chết.
Thấy rõ gốc của đau khổ, chúng ta phải làm cách nào nhổ cái gốc
đó lên. Trong nhà Phật dạy muốn nhổ gốc của đau khổ, nghĩa là muốn dứt khổ,
chúng ta phải thấy rõ bản chất của thọ và ái cho tường tận. Thử hỏi quí vị cảm
thọ khổ và cảm thọ vui có thật hay không? Cảm thọ của sáu căn qua rồi mất, đâu
có thật! Thí dụ một bài hát thật là hay, khi nghe qua lỗ tai rất là thích thú,
nhưng nghe hát qua rồi mất, đâu còn mãi bên tai. Một thức ăn ngon ăn rất vừa
miệng, nhưng khi qua lưỡi rồi cũng mất, có còn mãi đâu v.v… Bản chất của tất cả
cảm thọ là vô thường, tức là tạm bợ giả dối. Biết rõ cảm thọ là vô thường giả
dối, chúng ta ưng làm tớ đuổi theo nó, hay muốn làm chủ không lệ thuộc vào cảm
thọ? Nếu giành được quyền làm chủ cảm thọ thì vui, nếu bị cảm thọ làm chủ thì
khổ. Quí vị nên can đảm chọn quyền làm chủ cảm thọ thì trọn một năm nay nhất
định quí vị hết khổ, hoàn toàn an lạc.
Bản chất của ái có thật hay không? Ái là thương, thương yêu là
nghĩ tới thân này nó lâu dài bền bỉ, nhưng bản chất của thân là vô thường.
Thương yêu nó chỉ là thương yêu cái tạm bợ mà thôi. Thương yêu sự nghiệp cũng
vậy, sự nghiệp là vô thường, thương yêu thân thuộc, thân thuộc cũng là vô
thường. Những điều mình thương yêu đó đều vô thường, không có bền lâu. Chúng ta
lại thương yêu những cái vô thường hay sao? Hay là chúng ta thương yêu cái gì
lâu dài vĩnh cửu? Thí dụ khi đi chợ mua những vật cần dùng quí vị chọn những
thứ bền tốt hay những thứ tạm tạm xài vài ba hôm rồi lại hư? Dĩ nhiên chúng ta
lựa những vật dùng bền tốt, những gì tạm tạm chúng ta không mua.
Cũng như vậy, biết thân là vô thường, sự nghiệp là vô thường,
những người thân thuộc là vô thường, chúng ta ôm ấp thương yêu chúng nó để làm
gì? Khi những giọt mưa từ mái nhà rơi xuống nổi lên những bong bóng lóng lánh,
quí vị thương chúng nó hay không? Nếu thương, chúng nó bể thì sao? Bong bóng
nước cũng lóng lánh, hạt kim cương cũng lóng lánh, cả hai đều lóng lánh, quí vị
thương cái nào hơn? - Thương hạt kim cương hơn, tại sao? Vì nó lâu bền. Chúng
ta thương cái gì lâu bền. Như vậy thân này vô thường, sự nghiệp vô thường,
những người thân thuộc của mình cũng vô thường thì mình phải thương hay không?
Mình thương cái nào không vô thường, cái giải thoát không sanh tử, đó mới là
cái mình thương. Những cái vô thường chúng ta thương hoài cũng không được gì,
vì chúng nó sẽ hoại và sẽ mất. Chúng ta đeo đuổi cưu mang cái vô thường, hay
đeo đuổi cưu mang cái thoát khỏi vô thường? Có một cái thoát khỏi vô thường
chúng ta không thương, lại thương cái vô thường làm gì?
Chúng ta học đạo phải dùng trí nhận xét thấy cái gì bản chất là
vô thường là tạm bợ thì cái đó không có giá trị, qua rồi mất mà có giá trị gì!
Đã không giá trị, chúng ta đeo đuổi, cưu mang nó làm gì? Cái làm cho mình được
mãi mãi an vui tự tại giải thoát, cái đó mới là chân thật. Biết cái vô thường
rồi, chúng ta phải xoay lại cái chân thật vĩnh cửu. Khi trước, chúng tôi hay kể
câu chuyện “Cô Công chúa nũng nịu”. Thuở xưa có cô Công chúa rất được vua cha
yêu quí. Một hôm nhân buổi trời mưa, Công chúa ngồi nhìn những giọt nước từ mái
nhà rơi xuống, làm nổi lên những bong bóng rất đẹp, Công chúa thích quá nhưng
không nói, vì bản chất hay làm nũng Công chúa vào phòng nằm, mặt mày ủ dột. Nhà
vua có Công chúa là con duy nhất, thương con vô cùng. Đến giờ cơm, thấy con
không ra dùng bữa, nhà vua nóng ruột vào phòng thăm hỏi: Con ốm hay sao, không
ra dùng cơm? Công chúa không trả lời. Đến lượt Hoàng hậu vào năn nỉ, Công chúa
cũng không đáp lại. Hỏi han nài nỉ mãi, sau cùng Công chúa nũng nịu thưa: “Con
muốn có xâu chuỗi bong bóng nước đeo vào cổ, con mới hết bệnh.” Vua cha chiều
con rất mực. Nghĩ mình là vua muốn gì lại chẳng được, nhà vua bèn ra lệnh cho
tất cả quần thần: “Ai kết được xâu chuỗi bằng bong bóng nước cho Công chúa đeo
thì sẽ được phong quan tước, chia đất đai cho.” Đăng bảng lâu ngày mà không ai
dám lãnh. Sau cùng có một ông lão đến gỡ bảng, nhận xâu một chuỗi bong bóng
nước cho Công chúa đeo. Ông lão được giới thiệu với Công chúa. Nàng rất đỗi vui
mừng nói: “Nếu lão xâu cho tôi chuỗi bong bóng nước để đeo, tôi sẽ hết bệnh
ngay.” Ông lão nói: “Thưa thật với Công chúa, tôi già, con mắt lờ, nên lựa
không được những hạt bong bóng đẹp. Vậy ngày mai, khi trời mưa, tôi mời Công
chúa ra mái hiên chọn những hạt bong bóng nào đẹp nhất, Công chúa lượm đưa tôi
xâu cho.” Sáng hôm sau, trời mưa, ông lão và nàng Công chúa ra mái nhà, những
giọt mưa từ trên rơi xuống nổi bong bóng, Công chúa đưa tay vớt lấy…, vớt mãi
đến trưa mà không được hạt nào! Ông lão đứng chờ, chờ mãi không có hạt bong
bóng nào để xâu! Cuối cùng, quá mệt mỏi Công chúa nói: “Thôi, tôi không thích
bong bóng này nữa.” Nhà vua mừng quá bảo: “Để ta cho con xâu chuỗi bằng kim
cương con đeo.”
Ý nghĩa câu chuyện vừa kể như thế nào? Tất cả chúng ta có phải
là Công chúa đó không? Chúng ta cứ nắm bắt những ảo ảnh vô thường, nắm bắt mãi
cả đời mệt nhoài mà chẳng được gì. Rồi chúng ta vào chùa cầu xin Phật cứu con.
Đức Phật sẵn lòng từ bi cứu độ, cho chuỗi kim cương thứ thật. Chúng ta chỉ chịu
nhận thứ thật khi nào chúng ta đã mệt nhoài với những thứ tạm bợ hư dối. Đức
Phật tuy lấy ví dụ một câu chuyện rất trẻ nhỏ nhưng đúng với bệnh của chúng
sanh. Chúng ta giống y nàng Công chúa đó. Khi chúng ta thức tỉnh biết trở về
với Phật, Phật sẽ chỉ cho chúng ta cái chân thật. Nếu chúng ta sống được với
nó, cái chân thật ấy còn mãi, không bao giờ mất.
Người Phật tử muốn hết khổ phải thấy rõ bản chất của đau khổ
không có thật. Bản chất của đau khổ là ái và thọ, cả hai đều không thật. Càng
đuổi theo chúng càng đau khổ thôi. Nếu biết dừng lại, đau khổ sẽ bớt từ từ cho
đến một ngày nào chúng ta lìa hẳn nó, không còn đau khổ nữa.
Nhân nghe câu nào trong kinh Kim Cang mà Lục Tổ ngộ đạo? Trong
kinh Kim Cang, Phật dạy phương pháp an trụ tâm: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất
ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”
Ngay đây Lục Tổ ngộ, rồi từ đó về sau Ngài hết khổ luôn. Muốn
sanh tâm cầu Vô thượng Bồ-đề thì đừng dính với sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp. Sáu trần không dính là an trụ tâm. Đó là hạnh phúc tuyệt vời. Nếu còn
dính với sáu trần là còn bất an, còn đau khổ. Nếu chúng ta không kẹt không chấp
vào cảm thọ của sáu căn, tức là chúng ta được giải thoát.
Cũng chính trong kinh Kim Cang đức Phật có dạy: “Phàm sở hữu
tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.” Những
gì có tướng đều là vô thường, vô thường là tạm bợ, hư dối. Nếu thấy các tướng
không phải tướng là thấy Phật. Tại sao? Tỉ dụ hiện giờ thấy một món vật đẹp,
chúng ta biết rõ nó là duyên hợp hư dối; một vật gì quí, nó là duyên hợp hư
dối, một thức ăn ngon, nó là duyên hợp hư dối. Biết rõ được như vậy, đó là có
trí tuệ giác ngộ. Trí tuệ giác ngộ tức là Phật. Thấy tất cả tướng không phải
tướng tức là thấy tất cả vật đều không thật, tất cả đều là duyên hợp hư dối.
Thấy rõ như thế là thấy Phật, không phải tìm Phật ở đâu xa. Nếu thấy Phật thì
hết khổ.
Nếu muốn hết khổ chúng ta phải biết rõ bản chất của thọ và ái là
vô thường, hư dối. Chúng ta phải diệt hết, nhổ sạch gốc của thọ và ái, thì
ngang đó chúng ta được an lạc. Niềm vui không phải từ bên ngoài đem đến, không
phải do sự giàu sang sung sướng lắm tiền nhiều của, mà vui vì biết phá bỏ những
mê chấp sai lầm. Buông bỏ những sai lầm, đó là trí tuệ tỉnh giác, đó tức là
Phật. Tu theo Phật cốt để giác ngộ. Giác ngộ cho nên không lầm không mê, tức
nhiên không khổ. Hết ngu mê là sáng suốt, sáng suốt tức là hết khổ.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Bạn có thể dùng mã code dưới đây để chèn hình, video từ bên ngoài vào comment:
- Tặng hình : [img] link hình [/img]
- Gửi tặng video: [youtube] link youtube [/youtube]